Cần một đề án “chính quyền đô thị” hoàn chỉnh

Xem tin gốc 

SGTT - 22 tháng trước 119 lượt xem

Can mot de an “chinh quyen do thi” hoan chinh

SGTT.VN - Tại TP.HCM, vấn đề xây dựng chính quyền đô thị đã được đặt ra từ năm 1990, do ông Võ Văn Thôn, lúc đó là chủ tịch UBND quận 3, sau này là giám đốc sở Tư pháp khởi xướng. Năm 2007, thành phố có soạn một đề án về việc này nhưng theo lời ông thì nó giống như một tờ trình với những nét phác thảo rất sơ khởi. Sài Gòn Tiếp Thị ghi nhận những ý kiến đóng góp cụ thể của ông Võ Văn Thôn với mong muốn thúc đẩy việc cần làm ngay này.

Đô thị là một thể thống nhất, không phải là nhiều địa phương ghép lại nên phải được quản lý thống nhất. Ảnh minh họa. Ảnh: L.H.T

Ý tưởng về mô hình chính quyền đô thị đến với tôi là do trước năm 1975 tôi sống ở Sài Gòn, hồi đó đã có khái niệm chính quyền đô thị rồi. Dù lớn hay nhỏ, nó chỉ có một cấp chính quyền. Sài Gòn to ngang tỉnh nhưng không vì thế mà có ba cấp. Đô thị là một thể thống nhất, không phải là nhiều địa phương ghép lại nên phải được quản lý thống nhất. Hệ thống đường, đèn, nước không thể phân biệt theo cấp, theo địa bàn được, người ta chỉ chia ra khu vực để quản lý.

Đặc điểm sinh sống ở đô thị khác với nông thôn, có cái ngược hẳn. Đem mô hình chính quyền nông thôn gắn lên thành thị như hiện nay là không phù hợp, sẽ kiềm chế sự phát triển của đô thị.

Từ lâu, lãnh đạo thành phố đã thấy chiếc áo “cơ chế” quá chật đối với mình, đã xin cơ chế “đặc thù” nhưng khi đem ra Quốc hội bàn thì các địa phương khác không thông, đại biểu nói địa phương nào mà không có đặc thù riêng.

Năm 1990, lần đầu tiên, thủ tướng Võ Văn Kiệt ra quyết định 132 giải thích về “chính quyền đô thị”. Theo đó, địa phương nào có trên 60% dân phi nông nghiệp thì đó là chính quyền đô thị, tùy theo mật độ dân số cao thấp mà phân đô thị thành loại 1, 2, 3. Tiếc là quyết định này không nói gì về tổ chức bộ máy.

Quốc hội sắp xem xét việc sửa Hiến pháp: bỏ chế định hội đồng nhân dân cấp quận, phường. Cùng với đó, sẽ phải bàn đến chế định ủy ban nhân dân cấp quận, phường vì có liên quan. Đây là tiền đề để có thể hiện thực hóa những ý tưởng về chính quyền đô thị. Vì vậy, thành phố nên xây dựng, trình một đề án về chính quyền đô thị hoàn chỉnh cho Quốc hội luôn chứ không nên vướng chỗ nào thì xin gỡ chỗ đó.

Chính quyền đô thị phải là chính quyền một cấp, ở TP.HCM là chính quyền cấp thành phố. Còn phía dưới, quận, phường chỉ là cánh tay nối dài của thành phố, là các cơ quan hành chính (chứ không là ủy ban) với người đứng đầu là những công chức, được bổ nhiệm chứ không được bầu. Vì không được bầu nên không thể gọi là “chủ tịch”, có thể gọi là quận trưởng, phường trưởng như trước đây.

Về tổ chức bộ máy bên trong, cần xác định lại chức năng, nhiệm vụ của quận, phường, chủ yếu nên là giữ gìn an ninh trật tự. Hiện nhiều quận, phường treo khẩu hiệu rằng mình “lãnh đạo toàn diện” trong khi thực tế họ không thể “toàn diện” được vì rất nhiều việc như cấp phép, thu thuế… là do cơ quan chuyên môn cấp thành phố làm, nhiều nơi cũng không có hoạt động nông nghiệp hay công nghiệp gì để “lãnh đạo” cả. Trong khi đó, vì chữ “toàn diện” này mà quận, phường có nhiều phòng ban chức năng không thực sự cần thiết. Việc xác định lại chức năng, nhiệm vụ là để xây dựng biên chế, kế hoạch ngân sách cho hợp lý. Cứ thử xuống quận, huyện khảo sát xem bộ phận nào làm nhiều việc nhất thì phân bổ nguồn lực nhiều cho họ. Cũng không nên hiểu nội hàm của việc giữ gìn an ninh trật tự chỉ là chống trộm, cướp, nó bao gồm việc kiểm tra tính hợp pháp của tất cả các hoạt động diễn ra trên địa bàn như kinh doanh có phép không, xây nhà có phép không… – việc mà các địa phương đang rất yếu.

Chính quyền đô thị khác chính quyền nông thôn ở phương thức làm việc, hiện đại hơn và hiện đại theo sự phát triển của đời sống, do vậy, cùng với sự phát triển của công nghệ, bộ máy ngày ngày tinh giản hơn nhưng TP.HCM không như vậy. Năm 1975, khi tôi làm công tác tiếp quản, Sài Gòn chỉ có 10 ngàn công chức. Năm 2000, khi tôi nghỉ hưu, con số này lên đến 60 – 70 ngàn người. Trong khi, chiếc máy vi tính với riêng chức năng lưu trữ đã thay cho rất nhiều lao động “sống”. Có người sẽ nói rằng vì dân số tăng nhưng thường phải tăng đến một mức độ nào đó thì mới phải cần thêm người và có thể lấy công nghệ để “bù trừ” phần tăng thêm này. Đó là do bộ máy cứ ôm hết việc vào mình mà không theo các nước, chuyển giao cho xã hội dân sự làm (đô thị là nơi xã hội dân sự phát triển trước hết). “Ôm” hết sẽ tạo ra độc quyền, độc tài. Những dịch vụ công như vệ sinh môi trường, cấp thoát nước, rồi tiến đến cung cấp nước, điện… nên để cho tư nhân họ làm hoặc khoán cho họ, chính quyền chỉ cần giám sát việc thực hiện.

Có một chuyện nhỏ nhưng khi đi vào thực tế sẽ vướng, cần đề xuất phương án giải quyết ngay bây giờ. Ví dụ, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh về cơ bản đã là đô thị vì dân không còn làm ruộng, mật độ dân số rất đông nhưng vì vẫn bị khoác chiếc áo là “xã” nên biên chế phải tương ứng với cấp xã. Điều này đồng nghĩa với việc có ít người hơn, không có lực lượng công an chính quy mà chỉ có công an viên (ít về số lượng, thấp về chế độ, khác về đồng phục, trang bị). Trong khi, thông thường, địa bàn đang chuyển đổi là địa bàn phức tạp về khối lượng công việc hành chính lẫn an ninh trật tự. Trên cơ sở tình hình thực tế, nên có động tác kỹ thuật để địa vị pháp lý của nó cũng giống như phường.

Đã có nhiều nghiên cứu về chính quyền đô thị

Viện Kinh tế TP.HCM có kỷ yếu tổng hợp 15 năm (1988 – 2003) nghiên cứu của mình, trong đó có 57/164 đề tài có liên quan trực tiếp đến quá trình đô thị hóa Sài Gòn – TP.HCM. Sở Khoa học công nghệ và môi trường cũng lập danh sách các đề tài từ 1992 – 2007, trong đó có 27 cái về quản lý đô thị. Bên cạnh đó, có nhiều đề tài do các sở, ngành, quận thực hiện. Ngoài ra, còn có dự án quốc gia VIE/95/051 “Tăng cường năng lực quản lý và quy hoạch đô thị tại TP.HCM” do tiến sĩ Nguyễn Đăng Sơn làm giám đốc, được in thành tập tài liệu “Thành phố Hồ Chí Minh – vùng đô thị hiện tại và tương lai”. Đặc biệt, vào năm 2000 – 2001, UBND TP.HCM đã thành lập tổ nghiên cứu và xây dựng “Quy chế quản lý và phát triển TP.HCM”. Qua nhiều lần hội thảo, đã xây dựng thành quy chế trình Chính phủ. Trong tập kỷ yếu lưu lại, có ý kiến đề xuất như:

“Tổ chức và quản lý thành phố, lớn hay nhỏ đòi hỏi xem thành phố là đơn vị cơ sở. Đó là vì: xét về lịch sử ra đời, từ yêu cầu khách quan (kinh tế – chính trị – hành chính – xã hội…) và từ nguyên nhân chủ quan (cách tổ chức và quản lý thuận lợi nhất, thống nhất và hợp nhất…) thì thành phố là một đơn vị cơ sở và được quản lý thống nhất. Sự hình thành đơn vị thành phố, quận, khác với sự hình thành đơn vị tỉnh, huyện. Nó không từ sự hợp nhất, sự liên kết lại từ các đơn vị nhỏ, các cấp bên dưới bằng quyền lực và pháp luật, thành một đơn vị lớn hơn, một cấp bên trên cao hơn. Trái lại, nó phát triển từ một cơ cấu vốn có tính chất thành phố (tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp), từ một đơn vị hạt nhân mà lớn lên”.

(GS Đoàn Trọng Truyến)

Hơn 30 năm qua, TP.HCM có nhiều thành tựu trong quá trình phát triển nhưng mặt xây dựng chính quyền còn hạn chế.

Về kiến trúc thượng tầng đô thị, hình thức tổ chức bộ máy quản lý chính quyền các đô thị chưa thay đổi, chưa thích hợp. Nhiều bài tham luận trong các đề tài, hội thảo của các giáo sư, chuyên viên đã lý giải quá rõ và đủ tính khoa học của kiến trúc thượng tầng đô thị, bộ máy chính quyền cấp đô thị, thành phố. Rất tiếc, trong các báo cáo của thành phố gởi Chính phủ xin cơ chế đặc thù chưa sử dụng đến các quan điểm lý luận đó.

Như các nghiên cứu đã chỉ ra, chính quyền thành phố phải là chính quyền một cấp. Thấy thành phố quá đông dân nên căn cứ vào số dân mà chia ra nhiều cấp quận, phường với các ranh giới hành chính cơ học là một sai lầm. Ranh giới hành chính thường phải là ranh giới tự nhiên. Cấp hành chính cũng là những địa bàn hình thành tự nhiên, hoàn toàn không lệ thuộc vào số dân. Nếu địa bàn rộng hoặc dân số lớn thì có nhiều cách khác để quản lý. Nhiều nước trên thế giới đã sử dụng cánh tay nối dài, mới nhìn tưởng là các cấp chính quyền hoặc cũng dùng các từ quận, phường, như chính quyền Sài Gòn trước 1975 nhưng thực chất, về tổ chức nó là các cấp ủy quyền.

(Trích tham luận của ông Võ Văn Thôn tại hội thảo Đô thị hóa ở Sài Gòn – TP.HCM từ góc nhìn lịch sử – văn hóa năm 2008)

Viện Kinh tế TP.HCM có kỷ yếu tổng hợp 15 năm (1988 – 2003) nghiên cứu của mình, trong đó có 57/164 đề tài có liên quan trực tiếp đến quá trình đô thị hóa Sài Gòn – TP.HCM. Sở Khoa học công nghệ và môi trường cũng lập danh sách các đề tài từ 1992 – 2007, trong đó có 27 cái về quản lý đô thị. Bên cạnh đó, có nhiều đề tài do các sở, ngành, quận thực hiện. Ngoài ra, còn có dự án quốc gia VIE/95/051 “Tăng cường năng lực quản lý và quy hoạch đô thị tại TP.HCM” do tiến sĩ Nguyễn Đăng Sơn làm giám đốc, được in thành tập tài liệu “Thành phố Hồ Chí Minh – vùng đô thị hiện tại và tương lai”. Đặc biệt, vào năm 2000 – 2001, UBND TP.HCM đã thành lập tổ nghiên cứu và xây dựng “Quy chế quản lý và phát triển TP.HCM”. Qua nhiều lần hội thảo, đã xây dựng thành quy chế trình Chính phủ. Trong tập kỷ yếu lưu lại, có ý kiến đề xuất như:

“Tổ chức và quản lý thành phố, lớn hay nhỏ đòi hỏi xem thành phố là đơn vị cơ sở. Đó là vì: xét về lịch sử ra đời, từ yêu cầu khách quan (kinh tế – chính trị – hành chính – xã hội…) và từ nguyên nhân chủ quan (cách tổ chức và quản lý thuận lợi nhất, thống nhất và hợp nhất…) thì thành phố là một đơn vị cơ sở và được quản lý thống nhất. Sự hình thành đơn vị thành phố, quận, khác với sự hình thành đơn vị tỉnh, huyện. Nó không từ sự hợp nhất, sự liên kết lại từ các đơn vị nhỏ, các cấp bên dưới bằng quyền lực và pháp luật, thành một đơn vị lớn hơn, một cấp bên trên cao hơn. Trái lại, nó phát triển từ một cơ cấu vốn có tính chất thành phố (tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp), từ một đơn vị hạt nhân mà lớn lên”.

Hơn 30 năm qua, TP.HCM có nhiều thành tựu trong quá trình phát triển nhưng mặt xây dựng chính quyền còn hạn chế.

Về kiến trúc thượng tầng đô thị, hình thức tổ chức bộ máy quản lý chính quyền các đô thị chưa thay đổi, chưa thích hợp. Nhiều bài tham luận trong các đề tài, hội thảo của các giáo sư, chuyên viên đã lý giải quá rõ và đủ tính khoa học của kiến trúc thượng tầng đô thị, bộ máy chính quyền cấp đô thị, thành phố. Rất tiếc, trong các báo cáo của thành phố gởi Chính phủ xin cơ chế đặc thù chưa sử dụng đến các quan điểm lý luận đó.

Như các nghiên cứu đã chỉ ra, chính quyền thành phố phải là chính quyền một cấp. Thấy thành phố quá đông dân nên căn cứ vào số dân mà chia ra nhiều cấp quận, phường với các ranh giới hành chính cơ học là một sai lầm. Ranh giới hành chính thường phải là ranh giới tự nhiên. Cấp hành chính cũng là những địa bàn hình thành tự nhiên, hoàn toàn không lệ thuộc vào số dân. Nếu địa bàn rộng hoặc dân số lớn thì có nhiều cách khác để quản lý. Nhiều nước trên thế giới đã sử dụng cánh tay nối dài, mới nhìn tưởng là các cấp chính quyền hoặc cũng dùng các từ quận, phường, như chính quyền Sài Gòn trước 1975 nhưng thực chất, về tổ chức nó là các cấp ủy quyền.

Từ khóa liên quan

Danh từ
Động từ
Địa danh trong nước
Địa danh thế giới
Cụm từ
Tổ chức
Tên người
Từ chuyên môn

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang