> Nhiều học sinh chết đuối trong ngày hè > Ba anh em ruột cùng chết đuối > Những cái chết thương tâm từ bờ sông Hồng > 3 nữ học sinh níu tay nhau chết đuối dưới đáy hồ > Nghịch lý tại các bãi biển "tử thần": Càng biết bơi càng dễ... chết đuối
> Tự chèo đò, 2 nữ sinh chết đuối Những người chống lại Hà Bá
Ông Nguyễn Văn Thủy - Chủ tịch UBND xã Cổ Đô cho biết, cả làng chài Cổ Đô có hơn 100 người sẵn sàng vớt xác cứu người. 10 năm trở lại đây làng chài đã vớt xác và cứu hơn 500 người thoát khỏi Hà Bá. Từ năm 2003, xã đã tiến hành dự án cấp đất cho làng chài Cổ Đô. Bước đầu, đã đưa được 55 hộ lên bờ. Nhưng do quỹ đất hạn hẹp, chính quyền xã đang làm hết sức để có thể đưa người dân Cổ Đô lên bờ.
Chúng tôi đến làng chài Cổ Đô vào buổi trưa hè nắng cháy da thịt. Nằm mấp mé bên một gò đất sát khu đất bãi bồi ven dòng Đà Giang, làng chài Cổ Đô như một thế giới tách biệt bồng bềnh trên sóng nước với hàng trăm con thuyền đậu san sát. Đó là nơi trú ngụ, sinh hoạt và kiếm sống của 105 hộ gia đình với 600 nhân khẩu... Ở làng chài này, có hàng chục hộ chuyên sống bằng nghề chài cá và họ còn kiêm luôn “nghề” rất đặc biệt: Nghề câu xác trên sông. Một trong những “thợ vớt xác lành nghề” của làng chài Cổ Đô là ông Ngô Văn Lại. Khi chúng tôi đến cũng là lúc ông vừa đi vớt xác một nạn nhân bị chết đuối ở xã Phong Vân về. Ông Lại vóc người nhỏ bé, làn da rám nắng, đỏ au pha lẫn xạm đen, khuôn mặt với những nếp nhăn dài trên gò má đã mấy chục năm vớt xác. Giờ đã bước sang tuổi 60, nhưng ông vẫn có thể ngâm mình vài tiếng đồng hồ dưới sông để tìm vớt xác người. Tiếp chuyện chúng tôi, ông kể: “Vào mùa lũ, nước sông dâng cao làm nhiều người chết đuối quá. Vừa rồi, tôi mới đi vớt cho một người bên Phong Vân về, nạn nhân là người xã ấy, khi tìm thấy xác không ai dám vớt vì anh này bị nghiện. Chính quyền xã tìm nên tôi đến đó, may mà thịt chưa rữa”. “Thế ông không sợ à?”, - tôi tò mò hỏi. “Cũng sợ chứ! Nhưng nhìn người ta thương tâm lắm, họ sống mắc sai lầm nhưng chết cũng nên nguyên vẹn, mình làm phúc nên chẳng từ nan”. Bám sông để sống và chứng kiến nhiều cái chết thương tâm, không biết từ khi nào, người dân làng chài đã biết cứu người và vớt xác. Ở nhiều xứ vạn, ngư dân làng chài không bao giờ dám cứu người chết đuối, vì họ quan niệm rằng số mệnh của họ đến đấy là hết, Hà Bá đã lấy đi thì không ai dám cưỡng lại. Nếu cố tình cứu người chết đuối, sẽ phải thế mạng cho người được cứu.
Một góc làng chài Cổ Đô.
Nhưng người dân vạn chài Cổ Đô đấu tranh với thủy thần để phúc lại cho con cái. “Có gì mà kiêng với cữ, họ gặp nạn thì mình giúp như là nghĩa cử của người sống với người chết. Ai kiêng thì mặc họ chứ riêng dân chài Cổ Đô không kiêng cữ, chúng tôi từ khi hành nghề đến nay đã vớt được nhiều xác chết đuối lắm rồi mà có sao đâu” – ông Lại nói. Cùng chung quan điểm với ông Lại, ông Lê Văn Thanh, một ngư dân trong làng cho biết, mọi người nghĩ gì thì nghĩ, không thấy người bị nạn thì thôi chứ thấy nhất định phải giúp. Ông nói: “Thấy người chết không cứu thì sẽ ân hận, ám ảnh cả đời”. Ông Thanh kể, một lần, khi đang lái đò đánh cá, thấy 2 đứa trẻ chăn bò bị trượt chân rồi bấu nhau “giã gạo” cùng chìm, ông đã không ngại ngần nhảy xuống cứu. 2 cô bé tên là Nhung và Thủy, chưa đến 10 tuổi. Từ ngày ấy đến nay đã hơn 10 năm, 2 cô gái nhận ông là cha nuôi vẫn sang thăm hỏi khi có thời gian và chúng rất hiếu nghĩa. Ngàn lẻ... kiểu chết đuối trên dòng Đà Giang Con sông Đà dữ dằn với thác ghềnh, với những bờ vách đá dựng đứng, nước gầm gào nơi cửa ngày đêm... Mỗi năm, người dân làng chài vớt hàng trăm xác chết với đủ kiểu đến với tử thần. Mùa lũ chết đuối, cha mẹ bị con cái đối xử ghẻ lạnh, tàn nhẫn cũng nhảy dòng Đà Giang tự tử. Có phụ nữ bị chồng đánh đập phẫn uất ôm con nhảy sông tự vẫn, có cậu thanh niên tuổi đời 20 chọn sông Đà để ký thác đời mình vì thi trượt đại học, lũ con gái mới lớn nhỡ yêu, nhỡ có thai, cùng đường lại chọn dòng sông Đà... Ngàn lẻ kiểu chết nhưng tất cả đều chung một số phận, đều được người dân làng vạn chài Cổ Đô cứu vớt và an táng.
Ông Ngô Văn Lại, người có thâm niên 40 năm vớt xác trên sông với bộ "vũ khí tối thượng" là chùm câu vương sắc bén.
Ngư dân vạn chài Cổ Đô ai cũng nhớ vụ đắm đò Tản Hồng năm 1986 làm 7 người chết, trong đó có 4 đàn ông và 3 phụ nữ. Nhìn người nhà nạn nhân ngất lên ngất xuống, những tiếng khóc thảm vang một góc trời, những người dân vạn đò không ai bảo ai đều hối hả lặn sông tìm xác. Ông Ngô Văn Lại nhớ lại: “Hồi đó, tìm được xác các nạn nhân chúng tôi vui lắm vì đã làm được việc có ích”. Rồi vụ đắm đò tại xã Phú Cường vào năm 1989. Chiếc thuyền gần 120 người bị đắm làm chết 20 người trong đó có một phụ nữ mang thai. “Cả làng chài tìm kiếm vớt được 19 người, còn xác người phụ nữ mang thai trôi dạt đến ngày hôm sau mới tìm thấy”- ông Ngô Văn Đoàn, một ngư dân nhớ lại. Ông Đoàn cho biết, mỗi năm ông thường vớt khoảng 20 xác chết với nhiều lý do khác nhau, nhưng 70% số xác chết là do tự tử. Cùng với nghề chài lưới mưu sinh, người dân vạn chài Cổ Đô còn coi việc vớt xác như cái “nghiệp” để làm phúc. Ông Lê Văn Đức, 73 tuổi, một ngư dân lâu đời của vạn chài Cổ Đô tâm sự: “Tôi không nhớ mình đã cứu bao nhiêu người và vớt xác bao nhiêu lần. Dân sông nước chúng tôi quan niệm rằng, nếu vớt một người chết dưới nước lên, mình phải đền mạng nhưng tôi chẳng sợ, vì mang được xác người lên cho gia đình họ là tôi thấy đã làm được điều phúc lớn. Năm 1971, tôi có cứu được hai chị em ở tận Đoan Hùng bị lật thuyền ngay bến này, sau đó tôi nhận 2 đứa làm con nuôi, giờ chúng thường xuyên về thăm gia đình tôi”. Hơn 100 hộ trong làng, nhà nào cũng có một bộ đồ câu xác. Đó là một dây câu vương với nhiều lưỡi câu sắc nhọn thả hờ. Mỗi lưỡi câu thép dài khoảng 7cm, được uốn cong sắc lẹm và chĩa ra rất nhiều cạnh. Những móc câu này rất “bắt” xác, đã dính là móc chặt lấy quần áo, da thịt người chết. Khi câu người ta nắm cả mớ lưới móc, ngồi trên thuyền mà quăng xuống nước. Nếu gặp xác chết, lưỡi câu vương vào quần áo, da thịt người chết, họ kéo nhẹ xác chết đến gần thuyền rồi nhảy xuống, cột xác chết vào dây thừng sau đó kéo vào bờ, ôm xác chết lên bờ cùng người nhà khâm liệm. Đó là xác chết mới. Ông Ngô Văn Lại vừa sửa lại móc câu vừa nói: “Gặp xác chết lâu ngày thì đến khổ. Chỉ đụng vào là thân thể tả tơi, nên tụi tôi phải nhẹ tay nâng niu thân xác của họ, tránh không làm cho thân xác của họ rơi rụng...”. Ông Lại chia sẻ với chúng tôi về kinh nghiệm khi vớt xác: “Vào mùa hè thời tiết nóng, người chết chưa đến 24 tiếng đã nổi, nhưng vào mùa đông ít nhất phải mất đến 3 ngày”. Ông cũng cho biết, cách để xác định thân nhân người tử nạn: “Khi vớt xác lên, nếu xác chết ộc máu tươi có nghĩa là trong những người đứng xem có người là thân nhân của người chết”. Không chỉ cứu giúp hay vớt xác cho người nạn nhân ở Ba Vì, người dân vạn chài còn sẵn sàng đi xa để làm phúc có khi lên Lào Cai, Bắc Giang, Hải Phòng, Thái Nguyên... Cứ đâu có người nhờ giúp là họ lại sẵn sàng lên đường. Họ làm không phải vì công xá mà xuất phát từ cái tâm. Chính vì vậy, cả làng chài vạn Cổ Đô đều vớt xác người nhưng không ai xem vớt xác làm nghề nghiệp. Thế nhưng, khi cái nghiệp đã “vận” vào thân thì họ sẵn sàng lao vào nơi nhọc nhằn và đầy ô nhiễm để tìm xác - cứu vớt một tâm linh khỏi chơi vơi nơi cửa sông. “Mình cứ sống, cứ làm theo đúng cái tâm, ắt trời chẳng phụ” - dân vớt xác vẫn truyền tai nhau như thế! Ở đời có những ranh giới giữa sự sống và cái chết, giữa khoan dung và độ lượng, giữa ích kỷ và vị tha mà trên hết là những tấm lòng nhân ái”. Câu nói của ông Lại lúc chia tay chúng tôi cũng là triết lý của dân vạn chài Cổ Đô. Họ nghèo nhưng ai cũng có lòng nhân ái. Phương Thuận - Hải Ninh
