Các loại pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Báo Đất Việt - 

Cac loai phao trong chien dich Dien Bien Phu

Trong chiến dịch Điên Biên Phủ năm 1954, các đơn vị pháo binh đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc đối đầu giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và thực dân Pháp.

Sau đây là một số loại pháo của quân đội nhân dân Việt Nam và quân đội Pháp sử dụng:

Lựu pháo 105 mm M2A1

Pháo 105 mm M2A1 (hay còn gọi là M101A1) do nước Mỹ thiết kế trước thế chiến thứ hai.

Từ năm 1941 pháo 105mm được đưa vào sản xuất hàng loạt, nó nhanh chóng triển khai chống lại quân phát xít Nhật ở khu vực Thái Bình Dương và tại đây loại pháo này được ca ngợi là có độ chính xác cao và uy lực mạnh mẽ.

Pháo 105 mm có tổng trọng lượng khoảng 2,2 tấn, dài 5,94 m, cao 1,73 m. Pháo này có thiết kế khóa nòng theo phương ngang, thiết bị chống giật khí thủy lực. Loại này có tầm bắn khoảng 11 km, sơ tốc đầu đạn 472 m/giây.

Lựu pháo 10 5mm M2A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ được trang bị cho cả quân Pháp và Quân đội nhân dân Việt Nam.

Phía ta được viện trợ từ Trung Quốc (do Mỹ viện trợ cho quân Tưởng, khi quân Tưởng thua thì Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thu lại được), còn phía Pháp nhận trực tiếp từ Mỹ.

Lựu pháo 155 mm M1

Pháo 155 mm M1 do Mỹ thiết kế sản xuất và sử dụng trong chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Tổng trọng lượng chiến đấu của pháo nặng 5,6 tấn, dài 7,3 m và cao 1,8 m. Pháo có tầm bắn gần 15 km, sơ tốc đầu đạn 563 m/giây. Tốc độ bắn duy trì liên tục 40 viên/giờ. Một khẩu đội pháo gồm 11 người.

Tại Điện Biên Phủ, quân Pháp chỉ có 4 khẩu loại này.

Sơn pháo 75 mm kiểu 41

Sơn pháo 75 mm kiểu 41 do Nhật sản xuất và được sử dụng rộng rãi trong chiến tranh thế giới thứ hai.

Loại pháo này có trọng lượng 544 kg, dài 4,3 m. Pháo có tầm bắn 7.000 m, sơ tốc đầu đạn 435 m/giây. Trong quân đội Nhật Bản thì một khẩu đội pháo 75 mm kiểu 41 gồm 13 người.

Quân đội ta chủ yếu thu được pháo 75 mm từ tay quân Nhật năm 1945, có thể sau này phía Trung Quốc cũng viện trợ cho ta một ít (Trung Quốc thu được của Nhật sau thế chiến lần thứ hai).

Súng cối 120mm M1938

Súng cối 120 mm M1938 do Liên Xô thiết kế sản xuất được sử dụng rộng rãi cho Hồng Quân trong thế chiến thứ hai chống lại quân Đức.

Trong thế chiến thứ hai, quân Đức phát xít tỏ ra “hâm mộ” loại súng cối này nên đã tự sản xuất cối 120 mm tương tự mang tên Granatwefer 42. Sau chiến tranh nó vẫn tiếp tục được chế tạo cho hồng quân Liên Xô và mang bán hoặc viện trợ cho các nước đồng minh.

Tổng trọng lượng pháo cối 120 mm M1938 là 280kg, chiều dài nòng 1,8 m. Sử dụng cơ chế nạp đạn bằng đầu nòng súng. Cối 120mm có tầm bắn khoảng 6.000 m, sơ tốc đầu đạn 272 m/giây.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị pháo binh của ta được trang bị một ít loại này, có thể được viện trợ trực tiếp từ Liên Xô hoặc từ Trung Quốc.

Ngoài ra, trong biên chế các tiểu đoàn pháo (thuộc các trung đoàn của đại đoàn công pháo 351) có pháo cối 82 mm M1937 cũng do Liên Xô sản xuất.

Pháo phản lực H-6 75 mm

H-6 là loại pháo phản lực phóng loạt cỡ 75 mm do Trung Quốc thiết kế sản xuất và viện trợ cho Việt Nam.

H-6 bao gồm sáu nòng cỡ 75 mm. Nó được đưa vào sử dụng trong những ngày cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ.

Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra từ 13/3 tới ngày 7/5/1954 và trải qua ba giai đoạn.

Ngay trong giai đoạn đầu, pháo binh quân ta đã làm cho quân Pháp phải kinh hồn bạt vía, tên chỉ huy pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ đã tự sát.

Trong suốt các giai đoạn sau, pháo binh luôn đóng vai trò yểm trợ bộ binh xung kích, tấn công tiêu diệt các mục tiêu quân địch tại Điện Biên.

Sau 55 ngày đêm chiến đấu anh dũng, đúng 17h30 quân ta chiếm sở chỉ huy địch bắt sống tướng Đờ Cát và toàn bộ ban tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi buộc thực dân Pháp phải ký hiệp định Geneva, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Lê Nam (tổng hợp)

Tin mới