Ca sĩ Phương Dung "con Nhạn trắng Gò Công"

Phunutoday.vn - 01/05/2012 06:33

(Người nổi tiếng) - Ngẫu nhiên mà tác giả Kiên Giang Hà Huy Hà đặt cho Phương Dung mỹ danh “Con nhạn trắng Gò Công” đăng trên báo, để chỉ hình ảnh Phương Dung trong chiếc áo dài trắng thành danh trên sân khấu với lao động nghệ thuật không mệt mỏi.

( Người nổi tiếng ) - Ngẫu nhiên mà tác giả Kiên Giang Hà Huy Hà đặt cho Phương Dung mỹ danh “Con nhạn trắng Gò Công” đăng trên báo, để chỉ hình ảnh Phương Dung trong chiếc áo dài trắng thành danh trên sân khấu với lao động nghệ thuật không mệt mỏi.

Năm 1962, lúc đó Phương Dung mới tròn 17 tuổi, lần đầu tiên cô xuất hiện trên sân khấu ca nhạc Sài Gòn với bài hát “Nỗi buồn gác trọ” của Mạnh Phát và Hoài Linh và “Những đồi hoa sim” của DZũng Chinh phổ thơ Hữu Loan đã đưa tên tuổi cô thành ca sĩ nổi tiếng trong vòm trời đầy ngôi sao ca nhạc đương thời như Lệ Thanh, Thanh Thúy, Duy Khánh, Minh Hiếu…

Ngày nay mỗi lần về thăm xứ biển Gò Công, nghe văng vẳng đâu đó bài hát “Tiền Giang quê tôi” và “Em về miệt thứ” của Phương Dung hát, lòng người không khỏi nôn nao và cảm thấy yêu hơn mảnh đất đã vun vén sinh thành nhiều tài năng nghệ thuật như Phương Dung, nhạc sĩ Hoàng Phương, Lê Dinh và cũng là quê hương của Thái hậu Từ Dụ và Hoàng hậu Nam Phương ngày xưa…

Con Nhạn trắng xứ biển gò công ngày xưa

Ca sĩ Phương Dung tên thật là Phan Phương Dung, cô sinh năm 1946 tại Gò Công, Tiền Giang trong một gia đình nông dân khá giả, có 4 anh em. Mẹ cô là em vợ của nhà văn tiền bối Hồ Biểu Chánh nổi tiếng đất Nam Bộ đầu thế kỷ 20.

Ca sĩ Phương Dung thời trẻ.


Thời học trò, Phương Dung là nữ sinh trường Nguyễn Bá Tòng, Gò Công. Khi còn theo học ở trường tiểu học nữ Gò Công, cô bé Phan Phương Dung nhiều tình cảm “mít ướt” rất yêu thích ca hát và luôn có mặt trong các chương trình văn nghệ do trường tổ chức.

Sau khi học hết bậc tiểu học, gia đình cho Phương Dung lên Sài Gòn thi vào lớp Đệ Thất trường Trung học Gia Long niên khóa 1958 – 1959.

Sau khi thi, không nuôi ước mộng sau này trở thành ca sĩ như một nghề nghiệp tương lai, mà chỉ thích được ca hát cho hay như đã có lần chị nói.

Nhưng vì yêu thích ca hát, nên Phương Dung cũng đã tự mò mẫm hỏi thăm đường đến tận Đài phát thanh Sài Gòn khi biết được nơi đây sắp tổ chức một cuộc tuyển lựa ca sĩ.

Sau này Phương Dung cũng không biết tại sao mình đã bạo dạn như vậy. Chắc chắn không có lý do nào khác hơn là niềm say mê ca hát.

Thời gian này tân nhạc Sài Gòn đã có khá nhiều ca sĩ nổi tiếng đang cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn như Thu Hương, Tâm Vấn, Thái Thanh, Thanh Thúy, Lệ Thanh, Bạch Yến, Bích Chiêu…Đó là những khuôn mặt thần tượng Phương Dung nhìn thấy vào Đài phát thanh lúc cô còn đứng bên ngoài cổng nhìn vào.

Trong khi đó, Phương Dung kể lại :“Tôi đứng ở ngoài thì ông gác-dan ra hỏi: này cô bé làm gì mà cứ thập thò ngoài này hoài vậy.” Cô lí nhí : “Thưa chú, con muốn vào để lấy đơn dự thi ca sĩ”.

Ông bảo vệ bảo cô để xe đạp đây, vào trong phòng đó, để cái thẻ học sinh ở đây vào quẹo bên tay trái, thấy có ông nhạc sĩ nào đeo kính cận, già già thì hỏi xin giấy tờ làm thủ tục dự thi ca sĩ”.

Cô bé nhà quê ở xứ Gò Công rất bỡ ngỡ, xa lạ cố lấy hết bình tĩnh làm theo lời chỉ dẫn của ông gác- dan vào gặp nhạc sĩ Võ Đức Tuyết.

Khi Phương Dung cho biết ý định muốn dự thi hát của mình, chị đã được vị nhạc sư tên tuổi này đề nghị hát thử nhạc phẩm “Em bé quê” là bài Phương Dung sẽ dự thi.

Nhờ đã quen đứng trước khán giả qua những buổi văn nghệ tại trường, Phương Dung đã không ngại ngùng gì đứng hát ngay giữa phòng, trước bao nhiêu người là những giọng ca nổi tiếng…

Nhưng may mắn chỉ đến với Phương Dung ở vòng sơ khảo và bán kết của cuộc tuyển lựa ca sĩ vào năm 1958 của Đài Phát Thanh Sài Gòn. Vì vào chung kết thì Phương Dung bị rớt.

Lý do mà cô kể lại là vì lúc Ban giám khảo đưa một bài hát, bắt thí sinh vừa phải vừa xướng thanh, vừa hát luôn.

Tất nhiên, là phải biết rành về solfège mới làm được. Mấy thí sinh khác do có sự chuẩn bị, mang theo đàn nên hát hay. Còn Phương Dung hát thì có lỗi trong lúc xướng âm nên bị rớt, chỉ được đứng hạng 4”.

2 trong 3 người được chấm đậu trong kỳ tuyển ca sĩ năm đó là Nhật Thiên Lan và Thanh Sơn.

Người sau trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng sau đó cũng chính là tác giả của ca khúc từng một thời hầu như ai cũng biết tới là “Nỗi buồn hoa phượng” và hàng trăm ca khúc nổi tiếng khác.

Không được giải cao, nhưng Phương Dung lại may mắn được giới thiệu với một nhạc sĩ nổi tiếng vào thời đó là Khánh Băng trong thời gian ông phụ trách chương trình văn nghệ giải trí cho trường Thị Nghè, là nơi xuất thân của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.

Lúc đó, tuổi Phương Dung còn nhỏ nên chỉ quen mặc đầm, nên tỏ ra hơi ngượng ngập trong chiếc áo dài đầu đời khi xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu giải trí trường Thị Nghè.

Nhưng do mê hát nên cuối cùng cũng đã vượt qua được những ngượng ngùng, e thẹn lúc ban đầu để dần dần gây được chú ý bằng tiếng hát của mình.

Chỉ trong vài năm đầu tiên đi hát, Phương Dung đã mau chóng gặp những cơ hội tiến thân tại những địa điểm trình diễn mà trước đó nhiều nghệ sĩ tên tuổi đã đi qua.

Chẳng hạn như phòng trà Tứ Hải của ông Trần Cao Tăng, một thời là giám đốc Đài phát thanh Pháp Á, là nơi Phương Dung từng hát “lót đường” vào năm 1959 cho những giọng ca đã có tên tuổi như Thanh Thúy.

Năm 1960, Phương Dung về hát ở phòng trà Anh Vũ là nơi trình diễn của rất nhiều nghệ sĩ như: Thanh Thúy, Khánh Ly, Trúc Mai, Bạch Yến, Bích Chiêu, Trần Văn Trạch, ban Tam Vân, Phương Lan, Quốc Thắng…

Ca sĩ Phương Dung đón Tết quê nhà xuân 2010


Thời gian này, vì đi hát nhiều và chỉ chú tâm vào niềm đam mê ca nhạc nên Phương Dung đã không có đủ điểm trong những kỳ thi tam cá nguyệt nên chỉ theo học trường Gia Long được đúng một niên khóa, sau đó chuyển qua trường tư thục Đức Trí đến hết lớp 11 rồi nghỉ học luôn. Cũng trong thời gian này, Phương Dung theo học Anh Văn tại Hội Việt – Mỹ đến hết lớp 6.

Thời kỳ hát ở phòng trà Anh Vũ, có thể coi là hoàng kim nhất của Phương Dung với những nhạc phẩm tiền chiến như: Thiên thai, Khối tình Trương Chi, Trương Chi, Đàn chim Việt, Suối Mơ, Buồn tàn thu…chuyện này là do Phương Dung đã được hướng dẫn trong thời kỳ đầu bởi nhạc sĩ Lê Trung Quân (cũng đi hát dưới tên Vân Quang), cũng là một sĩ quan Không quân là một người dạy chị hát theo giọng Bắc để trình bày những ca khúc tiền chiến.

Cũng từ đó, Phương Dung chuyển qua loại nhạc thời trang theo thị hiếu của khán thính giả đương thời do các hãng đĩa nhạc yêu cầu với các sáng tác của Lê Minh Bằng, Thanh Sơn, Châu Kỳ…

Phương Dung rất thành công với những ca khúc như: Chuyện tình Lan và Điệp, Hai kỷ niệm, Một chuyến đi, Hoa nở về đêm, Những đồi hoa sim… Với nhạc phẩm Đường về khuya sáng tác của nhạc sĩ đồng hương Gò Công là Lê Dinh, Phương Dung lần đầu tiên thu thanh tiếng hát mình trên đĩa nhựa.

Kế đó là những nhạc phẩm Vọng gác đêm xuân, Hai kỷ niệm, Một chuyến đi…rất được khán thính giả ưa thích.

Nhưng phải đợi đến năm 1962 khi nhạc phẩm Nỗi buồn gác trọ của Mạnh Phát và Hoài Linh ra đời thì tên tuổi Phương Dung thật sự đã bước vào một khúc quanh quan trọng, nhất là khi nhạc phẩm này được đưa vào phim “Saigon By Night” của hãng phim Alpha.

Ca sĩ Phương Dung trở thành một ngôi sao ca nhạc rất ăn khách, nên hãng đĩa “Sóng Nhạc” của ông Lê Tất Oanh đã mời Phương Dung ký một giao kèo độc quyền vào năm 1964 với một giá rất cao vào thời đó là nửa triệu đồng. Mỗi tháng thu thanh 4 nhạc phẩm, dù không có bài để thu vẫn được trả lương.

Với hãng đĩa Sóng Nhạc, Phương Dung tiếp tục làm say mê thính giả với tiếng hát cao chót vót của mình trong những ca khúc đã trở thành bất hủ như “Huyền sử ca một người mang tên Quốc” (hát chung với Nhật Trường), “Những đồi hoa sim”…

Riêng ca khúc bất hủ “Những đồi hoa sim” do nhạc sĩ DZũng Chinh phổ nhạc từ thơ của Hữu Loan đã được dùng làm nhạc phẩm chính cho cuốn phim “Tiếng hát nửa khuya” (”Songs At Night”) do Phòng Thông tin Hoa Kỳ thực hiện vào năm 1964.

Trong phim này Phương Dung đã được mời thủ diễn một vai quan trọng bên cạnh nam tài tử Huy Cường.

Ngoài “Những đồi hoa sim”, còn một vài nhạc phẩm khác do Phương Dung trình bày cũng được đưa vào cuốn phim này như “Không bao giờ ngăn cách”, “Bóng đêm”...

Ít ai ngờ, Phương Dung còn từng là diễn viên điện ảnh và nghệ sĩ cải lương. Ca sĩ Phương Dung từng được mời đóng một vai nhỏ trong phim “Hai chuyến xe hoa”.

Sau này, trong thời gian cư ngụ tại Úc Châu, cô cũng từng được mời xuất hiện trong bộ phim “Mission: Impossible”.

Từ năm 1965, Phương Dung tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực ca nhạc chủ yếu là các tác phẩm của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh (ca sĩ Nhật Trường) một nhạc sĩ đang rất được khánh thính giả ái mộ.

Sau khi ca sĩ Minh Hiếu giã từ sân khấu để làm phu nhân của “vua không ngai” Tướng Vĩnh Lộc - Tư lệnh Vùng III chiến thuật, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có những tâm sự buồn riêng, thất tình gửi vào những sáng tác rất hay.

Cũng trong năm đó, nhạc phẩm “Tạ từ trong đêm” của Trần Thiện Thanh do Phương Dung trình bày đã đoạt giải “Bài hát hay nhất” cùng với Huy chương Vàng dành cho ca sĩ trình bày xuất sắc do Thanh Thương Hội trao tặng.

Ngoài ra cũng với “Tạ từ trong đêm”, Phương Dung còn được tạp chí Sân Khấu của ký giả Nguyễn Ang Ca trao giải “Nữ Ca sĩ được Cảm tình Nhất” năm 1965.

Ngoài những sáng tác của Trần Thiện Thanh, tiếng hát Phương Dung còn được biết đến nhiều với những nhạc phẩm của Thanh Sơn, Hoàng Trang, Hồng Vân, Thu Hồ và đặc biệt những sáng tác của nhóm Lê Minh Bằng.

Từ giữa thập niên 60, Phương Dung đã trở thành một trong những giọng ca được mến mộ nhất với thể loại nhạc thời trang.

“Con Nhạn trắng Gò Công” với tiếng hát đặc biệt của mình hầu như đã chinh phục tất cả mọi người. Riêng tại Sài Gòn, Phương Dung đã cộng tác liên tiếp mỗi đêm với 7 phòng trà và vũ trường đó là một thành tích hiếm có ca sĩ nào đạt nổi.

Cô đã thu âm rất nhiều vào dĩa nhựa 45 tours của các hãng dĩa Sài Gòn ngày đó như: Sóng Nhạc, Sơn Ca và băng Akai của các trung tâm Continental, Trường Hải, Nhật Trường... thành công rất lớn. Khi nhắc đến “Con nhạn trắng Gò Công” Phương Dung là nhắc đến những nhạc phẩm nằm lòng được khán thính giả yêu thích.

Những đồi hoa sim (Dzũng Chinh và Hữu Loan), Nỗi buồn gác trọ (Mạnh Phát và Hoài Linh), Tạ từ trong đêm (Trần Thiện Thanh), Khúc hát ân tình (Xuân Tiên và Y Vân), Đố ai (Phạm Duy), Sương lạnh chiều đông (Mạnh Phát), Tím cả rừng chiều (Thu Hồ), Vọng gác đêm sương (Mạnh Phát), Cánh buồm chuyển bến (Minh Kỳ), Nỗi buồn đêm đông (Anh Minh), Sắc hoa màu nhớ (Nguyễn Văn Đông), Biết đâu tìm (Hoàng Thi Thơ), Rừng chưa thay lá (Huỳnh Anh), Còn mãi những khúc tình ca (Quốc Dũng)…

"Con nhạn trắng gò công" từng là đào thương cải lương

Nhắc lại sân khấu Sài Gòn vào thập niên 1960 đương lúc thịnh, là thời kỳ vàng son rực rỡ nhất của sân khấu cải lương. Những đào kép cải lương đêm nào sân khấu cũng sáng đèn, người xem chật cứng trong ngoài.

Ngày Chủ nhật còn phải diễn thêm xuất ban ngày vào buổi chiều mới đáp ứng thỏa mãn nhu cầu của người ái mộ cải lương. Trong khi đó, sân khấu tân nhạc vắng khách, lèo tèo không đủ sống.

Có khi 2-3 tuần hoặc hàng tháng mới tổ chức được một đại nhạc hội, do đó thời kỳ này có một số ca sĩ tân nhạc đã chuyển sang sân khấu cải lương. Trong số này có cả “con nhạn trắng Gò Công” Phương Dung.

Người khởi động thành công từ ca nhạc sang cải lương là nghệ sĩ tài danh, đầy cá tính Hùng Cường.

Ngoài chất giọng thánh thót cao trời phú, Hùng Cường còn là một nghệ sĩ rất tài hoa, đa tài nên trên sân khấu cải lương chỉ một thời gian ngắn anh trở thành một kép chánh ăn khách hơn cả Thành Được, Út Trà Ôn. Thấy Hùng Cường đi hát bằng xe hơi đời mới cáu cạnh, nhiều ca sĩ mủi lòng.

Nhiều người âm thầm rủ nhau đến các lò vọng cổ ôn luyện. Lúc bấy giờ chỉ tính sơ sơ trong nội đô Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định đã có trên 20 lò cổ nhạc, đó là chưa kể ở các tỉnh có rất nhiều nơi dạy và tỉnh nào cũng có.

Những lò của các nhạc sĩ nổi tiếng như: Út Trong, Văn Vĩ, Duy Trì, Huỳnh Hà, Tư Tân, Yên Sơn, Ba Giáo… cũng đều có ca sĩ tân nhạc đến học thời gian dài hoặc ngắn ngày. Nhưng do “phong trào” là chính, xác xuất thành công không cao bởi ca cải lương còn đòi hỏi sự mùi mẫn, nhập tâm và nhạy cảm.

Các ca sĩ tân nhạc không phải ai cũng luyện được nên một số đông đã bỏ cuộc sau thời gian ngắn. Một trong những lò cổ nhạc ở Sài Gòn được nhiều ca sĩ tân nhạc đến thọ giáo là lò Út Trong.

Lý do ca sĩ đến thọ giáo nhiều là bởi nhiều năm trước đó, nhạc sĩ Út Trong từng là Trưởng giàn cổ nhạc của gánh Thanh Minh suốt 13 năm và ông cũng chính là người đã huấn luyện đào tạo nữ hoàng cải lương Thanh Nga từ lúc còn thơ ấu cho đến khi trở thành ngôi sao sân khấu. Nữ ca sĩ tân nhạc Thanh Tuyền cũng từng có thời gian đến với lò Út Trong để học ca vọng cổ.

Hùng Cường và Phương Dung là hai ngoại lệ, rất thành công ở lĩnh vực cổ nhạc cải lương và tân nhạc. Hùng Cường quê ở Bến Tre còn Phương Dung quê ở Gò Công, cả 2 từ nhỏ biết nói, biết nghe đã quen thuộc với đàn ca tài tử, cải lương. Căn nghiệp hay cũng chính là cơ duyên có thể nói đã sẳn có trong máu thịt.

Người ta nói nếu như một Hùng Cường từ tân nhạc bước qua cải lương thành công, đã là động lực cho nhiều ca sĩ tân nhạc nhảy vào địa hạt cổ nhạc.

Và cũng một Phương Dung thất bại ở lĩnh vực cải lương đã làm chồn chân bao nhiêu người khác, khiến họ e ngại đã không dám nhảy vào cải lương. Sự ảnh hưởng và tác động của những người nổi tiếng trong giới nghệ thuật có sức mạnh lan tỏa rất lớn.

Ca sĩ Phương Dung bước vào làng cải lương, mà cô không phải tìm đến lò cổ nhạc nào để học ca, học nhịp, là do trước khi nổi tiếng ở tân nhạc, Phương Dung đã từng học ca vọng cổ từ đầu thập niên 1960, nên khi bước vào làng tân nhạc thì những bản nhạc đầu tiên người ta nghe được trên đài phát thanh Sài Gòn như: “Nỗi buồn gác trọ”, “Những đồi hoa sim”… thì khi ca vọng cổ, hơi hướng tân nhạc của cô vẫn còn vương quyện trong là hơi vọng cổ, nó không dứt khoát, nhưng lại khiến cho người ta cảm thấy một nét ngồ ngộ lý thú vậy.

Ai nghe Phương Dung ca vọng cổ bài “Góc bếp chái hè” nghe lầm lẫn giữa Phương Dung và Phượng Liên rất khó phân biệt.

Trước khi dấn thân vào ca hát cải lương, Phương Dung đã có sự chuẩn bị dọn đường bằng cách tập sự đóng kịch mà trước đây cô đã thủ vai Lượm trong vở trường kịch “Sông dài” của Hà Triều -Hoa Phượng, từng diễn ở miền Tây.

Ca sĩ Phương Dung và con gái Phương Vy


Đến năm 1965, Phương Dung chính thức bước vào làng cải lương, đầu tiên là gia nhập đoàn Thống Nhất của Út Trà Ôn, nhận vai trò đào thương hát tại rạp Hưng Đạo mỗi cát xê lãnh 3.000 đồng.

Trong vai Sử Mộng Hoàng gái Mông Cổ, Phương Dung đóng cặp với Út Trà Ôn, người ta thấy chất nghệ thuật già trẻ phân định rõ rệt.

Một Út Trà Ôn không che giấu được tuổi trời, là một bậc thầy vững chắc bên cạnh một Phương Dung quá trẻ và non nớt, bé bỏng. Không có sự trợ hứng của bạn đồng diễn dù Phương Dung cố gắng cũng khó mà có những pha ca diễn xuất thần.

Trong lúc bộ môn cải lương đang trong thời kỳ hưng thịnh, Phương Dung lên sân khấu với vai trò đào thương sao nhưng lại đột ngột bỏ nghề khiến mọi người hoài nghi không hiểu nổi.

Có người cho rằng bởi sau khi đoàn Thống Nhất diễn tuồng nói trên thì bị rã gánh, Phương Dung mất đất đứng, chán quá nghỉ hát cải lương luôn.

Cũng có người nói có lẽ do thấy được địa hạt này rất “khó ăn” nếu như giọng ca vọng cổ không được “mùi”, mà Phương Dung thì ngay cả hát tân nhạc có hay thật, nhưng không truyền cảm.

Vì yếu tố để trở thành cô đào chánh, được ký giao kèo với món tiền lớn thì làn hơi ca vọng cổ phải ru hồn người ta, phải thu hút khán giả thì mới được.

Thật ra Phương Dung gia nhập đoàn Thống Nhất trong tình trạng đoàn này kiệt sức, sắp rã gánh, sống ngày nào hay ngày nấy.

Lúc ấy thiên hạ nói phải chi Phương Dung chọn một sân khấu khác thì chắc không đến nỗi bỏ nghề cải lương sớm như vậy. Bởi người ta ví đoàn Thống Nhất của Út Trà Ôn lúc đó như ông Phán già mà nghệ thuật không có chiều hướng đi lên.

Cậu Mười Út đã cố gắng cố cầm cự và có sáng kiến mời những người ca sĩ tên tuổi bên phía tân nhạc để cứu vãn tình hình như Phương Dung, Tùng Lâm, Việt Ấn vào nhận vai trò trong tuồng, có nghĩa là gia nhập làng cải lương chớ không phải phụ diễn tân nhạc.

Những rồi cũng không làm gì hơn được, ba ca sĩ tân nhạc chỉ tham gia hát cải lương được khoảng 1 tuần thì Út Trà Ôn tuyên bố rã gánh.

Duyên nợ tình yêu và cửa Phật

Ca sĩ Phương Dung lập gia đình vào năm 1967, sau lần gặp người chồng tương lai một cách tình cờ tại Bangkok, Thái Lan một năm trước đó trong một dịp ca sĩ sang Thái Lan hát.

Vị đại sứ thời đó là em bà luật sư Trương Đình Du và là anh ruột của đạo diễn Võ Doãn Châu đã mời Phương Dung đến thăm tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại đây.

Câu chuyện tình yêu của Phương Dung làm độc giả nhớ đến câu chuyện tình lãng mạn của Tướng Nguyễn Cao Kỳ với cô hoa khôi Hàng không Việt Nam Đặng Thị Tuyết Mai năm 1964.

Võ Doãn Ngọc, hơn cô 13 tuổi là người bạn đời của cô sau này. Ông Ngọc du học tại Pháp từ năm 13, 14 tuổi, sau đó sang Thụy Sĩ làm việc và tình cờ gặp Phương Dung trong một dịp sang Bangkok nghỉ Tết với gia đình.

Sau lần gặp Phương Dung, anh Ngọc tự ý thôi việc để về Việt Nam xin cưới người mà anh đã cảm thấy rung động ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên. Đó cũng là lần thứ nhất anh Ngọc trở lại Việt Nam và lưu lại đây luôn cho đến khi cùng vợ và các con vượ̣t biên.

Sau khi thành hôn, Phương Dung quyết định nghỉ hát trong khi tên tuổi vẫn đang trên đỉnh cao. Sau khi lập gia đình, Phương Dung cùng chồng kinh doanh một trại gà và một số tàu đánh cá ở Gò Công và điều hành một công ty xuất khẩu tôm đông lạnh.

Hai lần xuất hiện cuối cùng của Phương Dung đã diễn ra trong một chương trình đại nhạc hội tổ chức tại hai rạp Quốc Thanh và Hưng Đạo đã đánh dấu cho quyết định quan trọng của “Con Nhạn trắng Gò Công”. Sau đó, Phương Dung chỉ còn ca hát qua những lần thu thanh cho hãng Continental của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho đến năm 1975 với hai băng nhạc nổi tiếng là “Sơn Ca 5” và “Sơn Ca 11” được bán rất cao. Hai người đã sống một cuộc sống hạnh phúc cho đến nay đã hơn đúng 44 năm. Vợ chồng Phương Dung có với nhau tất cả 8 người con (6 trai và 2 gái). Hai người con gái tên Hoàng Ly (tên đặt dựa theo một bài thơ Đường của Đỗ Phủ) và Phương Vy.

Phương Vy từng có thời kỳ xuất hiện trên vài chương trình Paris By Night với những nhạc phẩm ngoại quốc trẻ trung.

Trong khi cô chị Hoàng Ly lại đi theo con đường ca nhạc thời trang của mẹ.

Gia đình Phương Dung tới Úc năm 1977 và cư ngụ ở Melbourne. Chỉ 8 tháng sau khi tới đây, hai vợ chồng chị đã đứng ra khai thác 2 nhà hàng có trình diễn ca nhạc là Cửu Long và Tự Do.

Sau khi không còn khai thác nhà hàng vào năm 1983, Phương Dung nhận được lời mời sang Mỹ của nhạc sĩ Anh Bằng để thu cuốn băng đầu tiên tại hải ngoại mang tựa đề “Kỷ niệm còn đây”, gồm 10 ca khúc tiêu biểu của Phương Dung.

Năm 1984, cô trở lại làm tổng đại lý những phim bộ Hồng Kông chuyển âm tiếng Việt. Nhưng chỉ được một thời gian vì quá vất vả và nhất là tiền bản quyền càng ngày càng cao, nên chuyển qua làm với một người con trong ngành may mặc.

Đến năm 1990 cô hoàn tất thủ tục xin định cư tại Mỹ. Hai người con gái của ca sĩ đã đã có quốc tịch Mỹ trước đó. Riêng những người con trai của cô vẫn sống tại Úc.

Từ khi sang Mỹ đến nay, Phương Dung chỉ cộng tác với trung tâm Asia với những ca khúc quen thuộc của thể loại nhạc thời trang ngày nào…

Từ hơn 13 năm nay cô chỉ chú tâm vào những công tác từ thiện và tu học để tìm được sự thanh thản trong tâm hồn.

Các con Phương Dung cũng rất khuyến khích mẹ trong những việc làm từ thiện đúng với chủ trương của cô là luôn cần phải phát tâm Bồ Đề, đi theo con đường của Đức Quan Thế Âm. Nhờ vậy chị thấy cuộc đời có nhiều ý nghĩa hơn.

Hiện, Phương Dung chỉ còn một ước nguyện là thực hiện một DVD để kỷ niệm về cuộc đời đi hát của mình. Sau đó chị sẽ xuất gia là một tu sĩ để đi theo hạnh Bồ Tát cho đến cuối đời…

Năm 2011, Phương Dung làm nhiều công tác từ thiện tại quê nhà và cô mở một nhà hàng Cơm tấm tại Dĩ An- Bình Dương.

Nhớ lại trong một lần, khi MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên hỏi Phương Dung trên sân khấu: “Xin hỏi “con nhạn trắng” có muốn trở về Gò Công chăng?”.

Phương Dung bỗng ngẹn ngào: “Con chim nào cũng yêu mến cái tổ của nó dù là con nhạn trắng hay con quạ đen - tới đây Phương Dung bật khóc, tay quàng qua vai cô Kỳ Duyên - Chị lúc nào cũng muốn trở về Gò Công”.

Hồng Phấn


Tin mới