Nói như PGS.TS Ngô Văn Doanh, đây là vấn đề xưa cũ lắm rồi, trên thế giới cũng như ở VN đều đang áp dụng. Tuy nhiên, Viện Bảo tồn di tích (Bộ VHTTDL) vẫn nhận thấy cần phải “xới” lên thông qua cuộc hội thảo khoa học Tính liên ngành trong bảo tồn di tích vừa diễn ra tại Hà Nội để các nhà nghiên cứu, khoa học về lịch sử, văn hóa, bảo tồn-bảo tàng, khảo cổ, kiến trúc, mỹ thuật... ngày càng có những cái bắt tay chặt chẽ hơn.
Chuyện cũ nhưng vẫn thời sự
“Hiện đang có xu thế chuyên môn hóa hẹp. Chuyên môn hóa từng lĩnh ngành, lĩnh vực có nhiều cái lợi nhưng đi vào từng vấn đề cụ thể thì vẫn tồn tại những nhược điểm. Lâu nay, ngành bảo tồn di tích chỉ mới đứng song song với các ngành, lĩnh vực khác và ngược lại chứ chưa thật sự bắt tay một cách chặt chẽ để góp phần bảo tồn di tích. Đây là một thực tế mà ai cũng muốn nói ra”, GS.TS Hoàng Đạo Kính nói thẳng. Ông dẫn ví dụ, hiện người ta đang đánh đồng công việc tu bổ, tôn tạo di tích với xây dựng cơ bản.
Trong khi đó, ai cũng biết rất rõ rằng, tu bổ di tích hoàn toàn khác với xây dựng cơ bản. Cũng vì thiếu sự “liên ngành”, đa ngành nên người ta mới quy định như vậy. Và điều này dẫn đến không ít hạn chế trong lĩnh vực tu bổ di tích. “Bởi vậy, chúng ta cần chung tay nhằm hỗ trợ, bổ sung cho nhau để công tác bảo tồn di tích đạt hiệu quả”, GS.TS Hoàng Đạo Kính đề nghị.
Cùng với cách nhìn nhận này, PGS.TS Doãn Minh Khôi, Viện trưởng Viện Quy hoạch và Kiến trúc đô thị cho rằng bảo tồn di tích trong phát triển không gian đô thị là hết sức quan trọng. Ngày xưa, các công trình di tích lịch sử, văn hóa và kiến trúc có một không gian riêng. Ngày nay, cùng với quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã đẩy không gian di tích ngày càng trở nên nhỏ bé, thậm chí có những công trình di tích không còn nhận ra từ khoảng cách gần vì bị nhiều ngôi nhà vây kín đến mức “khó thở”.
Vì sao lại dẫn đến tình trạng này, theo PGS Doãn Minh Khôi, khi quy hoạch đô thị, hạ tầng cơ sở chúng ta đã không có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực nhằm đưa ra hướng bảo tồn cho không gian di tích. “Các công trình di tích ở trong thành phố chính là bản sắc của thành phố đó. Nếu không có sự vào cuộc của liên ngành thì sẽ đánh mất bản sắc của nó”, PGS.TS Doãn Minh Khôi nói.
Cần quan tâm lợi ích lẫn nhau
Tính liên ngành trong bảo tồn di tích là điều đương nhiên. Nghĩa là cần phải có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, khoa học từ các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, khảo cổ, kiến trúc, bảo tồn và bảo tàng... để cùng nhận diện một cách đầy đủ giá trị nhiều mặt của di tích. Tuy nhiên, có phải khi nào cũng phải áp dụng sự liên ngành, đa ngành và thậm chí là xuyên ngành hay không? GS.TSKH Lưu Trần Tiêu nói rằng, tính liên ngành trong bảo tồn di tích là một sự hiển nhiên không cần phải bàn cãi nữa. Điều quan trọng ở đây là, đặt ra vấn đề này cần được hiểu như thế nào, trong không gian nào, là thao tác thực tiễn hay đưa ra những nghiên cứu về một ngành khoa học.
Hiện đang có nhiều quan điểm khác nhau về bảo tồn di tích. Tu bổ di tích thì phải giống như thật là đương nhiên, thuộc về phạm trù nguyên tắc. Nhưng phải tính đến yếu tố bền vững chứ không thể một vài năm sau lại hỏng. “Ngày xưa, ông cha sử dụng nguyên liệu tự nhiên để xây dựng tháp Chăm. Còn ngày nay chúng ta có nên làm thế không? Về mặt bề ngoài tháp thì phải làm cho giống ngày xưa, còn bên trong tháp thì có nên áp dụng kỹ thuật dùng nhựa cây như xưa nữa không? Đây là điều tôi băn khoăn”, GS Tiêu nói. Cũng với suy nghĩ đó, theo ông cách tiếp cận liên ngành, đa ngành trong bảo tồn di tích cũng đang có những khoảng cách mà chúng ta cần có những nhận thức tạo nên sự đồng thuận.
Với kinh nghiệm quản lý của mình, PGS.TS Đặng Văn Bài cho biết, tính liên ngành trong bảo tồn di tích là xu thế tất yếu. Thực tiễn đã chứng minh, các ngành, lĩnh vực không phủ nhận lẫn nhau mà có mối quan hệ hữu cơ, hỗ trợ lẫn nhau. Nhưng PGS Bài cũng cho rằng, các ngành, lĩnh vực hãy quan tâm đến lợi ích của nhau chứ không nên tách riêng, đứng độc lập. Đối tượng của ngành bảo tồn-bảo tàng rất đa dạng, phong phú, vì thế cần phải có sự bắt tay của các ngành. Đồng thời, thông qua sự hỗ trợ cần thiết cho ngành bảo tồn-bảo tàng thì các ngành khác cũng nhận lại được những thông tin quan trọng từ di tích.
Vẫn đang thiếu giải pháp “kết dính”
Tại cuộc hội thảo này ai cũng nhận ra và đồng thuận rất cao sự cần thiết phải có tính liên ngành trong bảo tồn di tích. Nhưng điều quan trọng hơn, trong hoàn cảnh hiện nay thì làm thế nào để tăng cường một cách hiệu quả về sự liên ngành, đa ngành và xuyên ngành trong lĩnh vực bảo tồn di tích.
TS Nguyễn Thế Hùng, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa cho biết: từ lâu Bộ VH-TT (nay là Bộ VHTTDL) đã thành lập Hội đồng Khoa học về bảo tồn di tích bao gồm các chuyên gia, nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực để thẩm định các dự án tu bổ, tôn tạo di tích. Khi tổ chức thẩm định mà thiếu vắng một, hai thành viên đều phải hoãn. Điều đó cho thấy sự tham gia của các chuyên gia, nhà nghiên cứu là rất quan trọng. “Nhưng cũng phải nói thật rằng, nhiều dự án trình Bộ thẩm định lại thiếu vắng rất nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu góp ý vào trong đó.
Đây là thực tế và cũng là hạn chế cần sớm được khắc phục”, TS Nguyễn Thế Hùng nói. Đứng ở góc độ của các đơn vị tư vấn thì họ cho rằng, trong quá trình lập dự án lại rất eo hẹp về kinh phí để tiến hành nghiên cứu, khảo sát và mời các chuyên gia vì quy định chỉ có ngần vậy. Từ những thực tế này, hội thảo đi đến thống nhất ngành bảo tồn-bảo tàng chịu trách nhiệm làm đầu mối, đồng thời xây dựng cơ chế quản lý, tài chính trong hoạt động liên ngành về bảo tồn di tích.
Tuy nhiên, đó là chỉ mới kiến nghị vậy thôi chứ đi vào thực tế còn khó lắm. Nhiều nhà nghiên cứu, khoa học đã nói thẳng rằng, sẵn sàng hợp tác nhưng thiếu cái “đầu tiên” thì khó lắm.
Lâm Sơn