Biên cương xanh

Xem tin gốc 

Nhân dân - 28 tháng trước 25 lượt xem

Bien cuong xanh

ND - Hình như "đọc" ý nghĩ xa lơ xa lắc chẳng đâu vào đâu của tôi và thấy tâm trạng mệt mỏi, thân thể uể oải bởi suốt gần một ngày vật vã trong chiếc xe khách ọc ạch trên những con đường miền núi dốc cao đèo thẳm, người bạn "đánh thức" tôi:

- Xe sắp đến Bình Liêu rồi đó!

Tôi lấy tay dụi dụi đôi mắt đang ngái ngủ, hít một hơi thở thật sâu rồi cố vươn vai, vặn vẹo hai bên sườn kêu "rắc rắc" cho tỉnh táo. Chiếc xe chạy đến chợ biên giới Đồng Văn (thuộc xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, Quảng Ninh) thì dừng lại. Vừa bước chân xuống xe, bất chợt tôi nghe thấy tiếng ai đó như than thở: "Dù ai buôn bán trăm bề/Chớ đi Ba Chẽ, chớ về Bình Liêu". Tôi hỏi người bạn:

- Ba Chẽ, Bình Liêu có rừng thiêng, nước độc hay sao mà người ta khuyên nhau như vậy?

- Dân gian đã nói thì ít nhiều đều có cơ sở - Bạn tôi giải thích - Mới cách đây khoảng hai chục năm thôi, đường sá lên hai huyện biên giới Ba Chẽ và Bình Liêu vô cùng gian nan, vất vả. Địa hình hiểm trở, điều kiện tự nhiên và khí hậu không thuận lợi cho việc làm ăn nên không ít người tỏ ra ngại ngùng, hơn thế là "dị ứng" mỗi khi nghĩ đến địa danh này. Nhưng khoảng chục năm trở lại đây, nhiều người đã tự nguyện "gác lại" nhịp sống rộn ràng, huyên náo và cả bao điều "quyến rũ" ở dưới xuôi để lên vùng đất biên ải này tiếp tục công cuộc "khai sơn, phá thạch" của ông cha ta ngày trước...

Màn đêm buông xuống, vành đai biên giới xã Đồng Văn chìm trong một mầu đen gần như đặc quánh. Càng về khuya, không gian càng trở nên im lìm. Tôi cố căng mắt ra nhìn cũng chỉ thấy ánh điện le lói, chập chờn dưới những lớp sương ngàn đang sà xuống mặt đất. Tiếng suối rì rào trên dòng suối nhỏ - đường ranh giới khẳng định chủ quyền giữa nước ta và nước bạn - là âm thanh duy nhất dội về trong buổi tối thanh vắng. Thấy tôi đứng thơ thẩn trước hiên nhà tầng ba của Sở chỉ huy Lâm trường 155, một cô gái khoảng ba mươi tuổi, dáng người thon thả, nhẹ nhàng đến gần, giọng ân cần:

- Anh đi đường xa có mệt lắm không?

- Xin lỗi, chị là ai vậy?

- Dạ, em là Cao Thị Nhung, y tá của Lâm trường. Chỉ huy Lâm trường bảo em vào phòng khách hỏi xem các anh có cần nước nôi, thuốc thang gì không để em phục vụ!

Qua trò chuyện, tôi mới biết Nhung là một "nữ y tá có ý chí thép" giữa miền biên ải Bình Liêu. Con gái đầu lòng mới hơn một tuổi, Nhung đã gửi ông bà ngoại ở phường Tiền Phong, TP Thái Bình trông nom, nuôi dưỡng suốt gần sáu năm qua. Chồng Nhung hết công tác ở huyện Móng Cái, Tiên Yên (Quảng Ninh), nay lại chuyển về Ban tuyên huấn Bộ CHQS tỉnh Thái Bình. Khoảng cách từ Lâm trường đến nhà gần 600 km, nếu công việc không bận rộn thì cũng phải hơn một tháng Nhung mới được tranh thủ về thăm chồng con một lần. Nhung tâm sự:

- Cá chuối đắm đuối vì con. Nhiều lúc nhớ con kinh khủng, anh ạ. Thế nên hầu như tối nào em cũng điện thoại về hỏi thăm hai bố con. Tất cả các khoản thu nhập của em được gần ba triệu, nhưng có tháng "ngốn" đến một triệu đồng tiền điện thoại di động. Mỗi tối được nghe tiếng con gái trong điện thoại, em mới cảm thấy mình ngủ yên tâm hơn...

Ngừng giây lát, Nhung bộc bạch:

- Dẫu sao em cũng đã có chồng con. Không như em Thành trợ lý dân vận của Lâm trường, chỉ vì công tác ở đây lâu ngày, đường xa ít về mà cô người yêu đã... đi lấy chồng!

Sáng hôm sau, người đưa tôi đến bản chính là Thành. Dáng người hơi thấp nhỏ, chân tay săn chắc, nước da ngăm ngăm, khuôn mặt sàm sạm cùng với phong cách nói năng xởi lởi, điềm đạm không khác mấy một người từng trải, lúc đầu tôi cứ nghĩ Thiếu úy Bùi Đức Thành cũng phải ở độ tuổi ngót nghét 30. Nhưng thực ra Thành mới 23 tuổi. Sinh ra trong một gia đình chỉ có hai chị em, bố mẹ là công chức nhà nước ở thị trấn Núi Đối, huyện Kiến Thụy (Hải Phòng), lại có bằng kỹ sư nông nghiệp trong tay, ít người nghĩ Thành dám "bỏ lại" cuộc sống phố thị để tình nguyện lên công tác nơi vùng cao biên giới Bình Liêu.

Lúc đưa tôi đến gặp Trung tá Ngô Văn Quốc, Đội trưởng Đội sản xuất số 3, Thành ghé tai tôi: "Chú ấy gần ba chục năm quân ngũ rồi mà vẫn có lúc phải đi chăn dê, thả bò và luồn rừng, vượt suối, leo núi đi kiểm tra hàng trăm héc-ta rừng đấy. So với chú ấy, bọn em chưa là gì cả".

Chỉ liếc mắt qua, tôi thấy anh Quốc giống lão nông tri điền hơn là một... sĩ quan quân đội. Vừa trông thấy khách, anh Quốc đã nhanh miệng:

- Tác phong nông dân quá, anh đừng cười tôi nhé. Lính lâm trường mà.

Hóa ra anh Quốc vừa đi lội ruộng cùng với bà con dân tộc Dao ở bản Phật Chỉ về. Khi tôi hỏi công việc hàng ngày của Đội, anh Quốc bảo:

- Mới nghe ai cũng tưởng Đội đông quân lắm, nhưng thực ra Đội sản xuất số 3 chỉ có vẻn vẹn năm người, gồm hai trung tá, một thiếu tá và hai đại úy. Ngoài nhiệm vụ chính là chăm sóc 250 ha rừng trồng và khoanh nuôi, bảo vệ 850 ha rừng đầu nguồn, chúng tôi còn chăn nuôi 25 con dê, 44 con bò và gần 100 con gà.

- Có năm người mà chăm sóc, bảo vệ tới 1.100 ha rừng, sức đâu mà các anh "kham nổi"?- Tôi ngạc nhiên.

- Sức từ lòng dân, anh ạ - anh Quốc tâm sự - Để dân không phá rừng, mà còn giúp bộ đội chăm sóc và bảo vệ rừng, chúng tôi phải đến từng nhà vận động, tuyên truyền bà con không đốt rừng làm nương rẫy, không vào rừng săn bắt thú và chặt cây rừng làm củi. Nói thì dễ thế thôi, nhưng phải chịu khó gần dân, sát dân, nói cho dân hiểu được lợi ích từ việc trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và cùng chia sẻ thành quả từ rừng với dân thì bà con mới nghe, mới tin và mới hợp tác với bộ đội.

Đội ngũ cán bộ, công nhân viên Lâm trường 155 là những người bình thường như bao người khác. Với họ, có những lúc buồn vui, có cả bao ước mơ khát vọng, có những điều mong ước bình dị và cũng có cả những giây phút "mềm lòng" để nghĩ đến sự tính toán thiệt hơn nào đó. Nhưng điều đáng trân trọng nhất ở họ là một tấm lòng gắn bó với đồng bào các dân tộc vùng biên suốt 10 năm qua. Nếu không có sự chung tay góp sức của các anh, sự sống trên cả một vành đai biên cương Đông Bắc vẫn "Như cánh rừng không gió, lúc nào cũng im lìm, hoang vu" như câu ví von của anh Tằng Vằn Lầu, Trưởng bản mới Phật Chỉ của xã Đồng Văn. Niềm tự hào của Trưởng bản Lầu biểu lộ rõ trong giọng nói xởi lởi:

- Trước đây, 31 hộ người Dao với 135 nhân khẩu sống ở trong các khe sâu hiểm trở, quanh năm chỉ quẩn quanh như con sóc trong rừng. Cách đây bốn năm, bộ đội Lâm trường 155 đã đưa người dân ra một địa điểm thông thoáng, gần đường, gần suối và xây dựng cho mỗi gia đình một căn nhà kiên cố xây bằng gạch, lợp bằng ngói đỏ. Có nhà cửa kín tường cao mái chắc, mùa mưa bà con không sợ sấm sét, mùa lạnh không sợ gió lùa nữa. Không những làm nhà cho dân, bộ đội Lâm trường còn hỗ trợ mỗi gia đình một con bò giống, trực tiếp hướng dẫn bà con cách trồng và chăm sóc cây lúa nước, cây xoài, cây hồng cho hạt mẩy, quả nhiều nữa chứ. Từ ngày có bộ đội về đây, cuộc sống của bà con dân tộc Dao đã bớt khó khăn, vất vả hơn ngày trước rồi.

Đón chúng tôi vào thăm nhà mình, vợ chồng anh Dường Kim Lìn, 27 tuổi và chị Chìu Nhì Múi, 26 tuổi luôn nói cười hồ hởi, vui vẻ. Anh Lìn kể, trước đây gia đình anh nghèo lắm. Cái nghèo mà theo anh Lìn tả "Xơ xác như cây rừng đến mùa rụng lá, buồn bã như con suối khô nước". Năm 2005, anh chị được Lâm trường 155 xây dựng cho một ngôi nhà kiên cố 36 m2 và hỗ trợ cho một con bò giống trị giá bốn triệu đồng. Sau gần 5 năm được bộ đội Lâm trường trực tiếp hướng dẫn cách chăn nuôi và trồng ba "lao" lúa nước (tương đương với chín sào Bắc Bộ), cuộc sống của gia đình anh chị hiện tại tuy chưa hẳn đầy đủ mọi bề, song không còn đói ăn như trước. Chị Múi bảo: "Biết ơn cái bộ đội Lâm trường 155 nhiều lắm. Vì có sự quan tâm giúp đỡ của bộ đội mà ba đứa con của vợ chồng mình không còn nheo nhóc nữa".

Không chỉ có bản Phật Chỉ đang bừng dậy sức sống mới, mà diện mạo cả vùng biên cương thuộc ba xã Đồng Văn, Đồng Tâm và Tình Húc với gần 10.000 nhân khẩu ở huyện miền núi Bình Liêu cũng mỗi ngày thêm thay da đổi thịt. Nhớ lại những ngày đầu hành quân từ miền xuôi ngược ngàn lên biên giới Bình Liêu, anh Vy bộc bạch:

- Hồi ấy (tháng 4-1999), khi đặt chân lên mảnh đất biên cương chỉ có núi rừng trập trùng, hoang vu, chúng tôi không khỏi băn khoăn, suy nghĩ trước một câu hỏi lớn: Cán bộ đơn vị chỉ quen cầm súng, kiến thức chuyên môn về kinh tế, khoa học-kỹ thuật nông lâm nghiệp hầu như không có, vậy làm gì và làm như thế nào để vừa ổn định tư tưởng bộ đội, củng cố tổ chức, vừa bắt tay vào công việc làm dự án kinh tế - quốc phòng có hiệu quả? Và chúng tôi đã xác định: Phải vừa học, vừa làm, vừa dựa vào dân để hiểu dân và tìm cách giúp dân phù hợp.

Với nhận thức rõ ràng ngay từ đầu như vậy, đội ngũ cán bộ, nhân viên Lâm trường 155 đã kiên trì vượt khó, bền bỉ bám trụ địa bàn, bám sát nhân dân, tích cực thực hiện song song hai nhiệm vụ là làm công tác vận động quần chúng, thực hiện các dự án kinh tế gắn với củng cố quốc phòng trên địa bàn. Sau khi tổ chức "an cư" cho dân, Lâm trường đã giúp đồng bào "lạc nghiệp" bằng việc trực tiếp hỗ trợ và hướng dẫn người dân địa phương trồng mới 900 cây hồng không hạt, 4.400 cây trám ghép, 1.200 cây xoài, 5 ha dong riềng và gần 23.000 khóm cỏ voi; làm mới sáu km đường liên thôn bản, xây dựng một trường học, một nhà mẫu giáo, 12 bể nước sạch; giúp dân xây dựng 10 mô hình VACR mang lại hiệu quả kinh tế và xây mới 800 mét kênh mương cấp nước trị giá hai tỷ đồng. Bên cạnh giúp dân xóa đói, giảm nghèo, Lâm trường đã tổ chức ươm hai triệu cây giống, trồng mới gần 830 ha rừng thông mã vĩ, khoanh nuôi bảo vệ 880 ha rừng đầu nguồn và trồng hàng nghìn cây xanh trên đường vành đai biên giới dài 26 km.

Đỉnh cao Ba Lanh một thời chiến tích hào hùng nay đã ngút ngàn một mầu xanh trùng điệp. Bên dòng suối trong vắt chảy rì rào và bọt tung trắng xóa khi qua những đoạn ghềnh là một con đường quanh co, uốn lượn đang được trải nhựa cấp phối với hai bên là những cây keo, cây sấu, cây phượng xum xuê cành lá vi vu trong tiếng gió ngàn. Những ngôi nhà ngói đỏ, tường vàng nổi bật giữa ngàn ngạt cỏ cây biêng biếc của núi rừng hùng vĩ như một "nét son" chấm phá lên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp ở vùng biên. Không ồn ào, tấp nập như ở cuộc sống ở miền xuôi, nhưng tiếng nô đùa hồn nhiên, ngộ nghĩnh của các em nhỏ trước cổng trường Phật Chỉ, tiếng mõ trâu lốc cốc xuống núi và những chàng trai, cô gái người Dao trong bộ trang phục dân tộc rực rỡ sắc mầu trên đường đi làm nương về, như làm trỗi dậy sức sống mới trên dọc vành đai biên giới Bình Liêu.

"Người vùng cao có câu: Đi đường phải nhớ người mở núi. Ăn gạo nương phải nhớ người làm rẫy trồng lúa. Từ ngày có bộ đội Lâm trường 155 về đây sát cánh cùng nhân dân đẩy lùi đói nghèo lạc hậu, cuộc sống trên mảnh đất biên cương Bình Liêu đang tiến gần miền xuôi hơn. Có được niềm vui đó, đồng bào các dân tộc Dao, Sán Chỉ, Tày, Hoa... trong huyện luôn ghi nhớ tấm lòng giúp dân tận tình của Bộ đội 155". Mang trong mình cảm giác ấm áp từ cái bắt tay thân tình của anh Lô Chắn, Phó Chủ tịch UBND huyện Bình Liêu, trước khi về xuôi, tôi còn nhớ như in lời nói mộc mạc của người con dân tộc Tày giản dị ấy.

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang