Bị sa thải, có được hưởng trợ cấp thất nghiệp?

TTO - Những trường hợp nào dưới đây sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp: bị sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật, hết hạn hợp đồng, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng?

- Theo quy định tại Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội; Điều 15 Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12-12-2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp, thì điều kiện để người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp như sau:

(1) Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm, hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động, hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

(2) Đã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

(3) Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động.

Như vậy, theo quy định trên, người lao động chỉ cần đáp ứng đủ các điều kiện để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp mà không phụ thuộc nguyên nhân mất việc làm.

- Do trong câu hỏi của bạn không nói rõ bạn vi phạm kỷ luật cụ thể như thế nào và việc xử lý kỷ luật sa thải bạn có đúng trình tự pháp luật quy định hay không, nên trong trường hợp này chúng tôi mặc nhiên xem như việc kỷ luật sa thải bạn của công ty là hoàn toàn hợp pháp và tuân thủ đúng theo trình tự pháp luật quy định. Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật, các quyền và lợi ích hợp pháp của bạn sẽ được giải quyết như sau:

(1) Về trợ cấp thôi việc:

Trong trường hợp bạn bị sa thải theo quy định tại Điểm a và b, Khoản 1 Điều 85 Bộ luật Lao động (BLLĐ) (người lao động bị sa thải do có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp; người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm) thì bạn không được trợ cấp thôi việc.

Trừ trường hợp trên, theo quy định tại Điều 42 BLLĐ đã được sửa đổi, bổ sung thì khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có).

Tuy nhiên, kể từ ngày 1-1-2009 nếu bạn có tham gia bảo hiểm thất nghiệp và đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp (đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm, hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; đã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc; chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động) thì bạn được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Đồng thời, thời gian bạn đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp thôi việc.

(2) Đối với tiền lương chưa lãnh:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 60 BLLĐ, người sử dụng lao động không được áp dụng việc xử phạt bằng hình thức cúp lương của người lao động. Do đó, việc công ty không trả tiền lương cho bạn là trái với quy định của pháp luật, trừ phi tiền lương được giữ lại để đảm bảo trách nhiệm vật chất của bạn đối với công ty theo quy định tại Điều 89, 90 BLLĐ.

(3) Đối với chế độ bảo hiểm xã hội:

Theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ xác nhận và bảo lưu thời gian đóng BHXH cho người lao động cho đến ngày nghỉ việc và hoàn trả sổ bảo hiểm cho người lao động.

(4) Đối với tiền thưởng A, B, C:

Theo quy định tại Điều 64 BLLĐ và Điều 11 Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31-12-2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương quy định như sau:

Căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp và mức độ hoàn thành công việc của người lao động, người sử dụng lao động thưởng cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp. Quy chế thưởng sẽ do người sử dụng lao động quyết định sau khi tham khảo ý kiến ban chấp hành công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp và ghi nhận vào quy chế trả thưởng để thực hiện.

Dựa vào quy chế thưởng và thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp, người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận ghi vào hợp đồng lao động để thực hiện.

Căn cứ vào các quy định trên, trong trường hợp hợp đồng lao động giữa bạn với công ty và/hoặc quy chế thưởng của công ty và/hoặc thỏa ước lao động tập thể của công ty (nếu có) quy định việc thưởng A, B, C như bạn trình bày trên và quy định những trường hợp bị kỷ luật sa thải sẽ không được hưởng chế độ thưởng này, thì việc công ty của bạn cắt chế độ thưởng của bạn là đúng quy định.

Trên cơ sở các quy định của pháp luật nêu trên, bạn có thể xem mình thuộc trường hợp nào để yêu cầu công ty giải quyết các quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Nếu thấy quyền lợi của mình chưa được giải quyết thỏa đáng theo quy định của pháp luật, bạn có thể khiếu nại lên giám đốc công ty. Trường hợp công ty không giải quyết, bạn có thể khiếu nại lên Phòng lao động thương binh và xã hội hoặc khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận/huyện nơi công ty bạn có trụ sở chính để yêu cầu giải quyết.

Tin mới