Bên dòng sông Cái Lớn

QĐND - 

Ben dong song Cai Lon

QĐND - Tên thường gọi của ông là Tám Hưng. Con kênh cuối ấp 10 chảy ra sông Cái Lớn mang tên ông: Kênh Tám Hưng. Ông là liệt sĩ, hy sinh năm 1969, trong trận chống càn, bảo vệ vùng căn cứ cách mạng Vĩnh Viễn, thuộc huyện Long Mỹ (Hậu Giang). Bà con ở đây kể rằng, ông đã rất quả cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, không để rơi vào tay giặc. Người vợ đôn hậu, đảm đang của ông năm nay đã 91 tuổi, là Bà mẹ Việt Nam anh hùng (VNAH) Dương Thị Mười (có chồng và 2 con liệt sĩ). Hiện nay, xã Thuận Hưng, đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân, có 14 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và 226 gia đình chính sách.

Bà má Mười ngồi trên cái sạp bên trái gian giữa ngôi nhà, nhìn ra dòng sông quê. Anh Đặng Hoàng Vũ, Bí thư Đảng ủy, kiêm Chủ tịch UBND xã Thuận Hưng ngồi bên cạnh má Mười, giới thiệu:

- Má Mười đây là một trong số rất ít Bà mẹ VNAH còn sống ở Long Mỹ. Má là vợ liệt sĩ Võ Văn Hưng (Tám Hưng). Má sinh đến 9 người con, 2 gái, 7 trai. Chồng và hai con hy sinh, các con của má đều tham gia kháng chiến. Người con trai là Võ Văn Tư, theo gương cha anh đi bộ đội, lên đến hàm đại tá, Sư đoàn phó Sư đoàn 4, không may bị bệnh, mất khi mới 43 tuổi.

Nghe anh Vũ nói vậy, tôi bỗng nhớ đến những câu thơ viết về những người Mẹ VNAH: Nước mắt lặn vào đêm/ Bưng biền mùa gió chướng/ Mẹ nhìn ra sông rộng/ Chiếc xuồng nào năm xưa/ Chồng và các con mẹ đã sang sông/ Tình mẹ như gió lộng/ Thổi miên man đồng bằng...

Người liệt sĩ hy sinh anh dũng, kiên cường bám trụ chiến đấu, để lại dòng kênh mang tên ông và biết bao ký ức sâu lắng cho gia đình, bà con xóm ấp. Vợ ông, má Dương Thị Mười, tuy tuổi đã vào hàng đại thọ, tai nghe không rõ, nhưng vẫn còn minh mẫn, nhớ từng trận đánh mà chồng và anh chị em trong ấp đã tham gia trên đất này. Năm 1995, chính quyền địa phương dựng cho bà căn nhà tình nghĩa khang trang.

Cuối năm ngoái, chúng tôi đã cùng Đại tướng Phạm Văn Trà đi dọc theo dòng kênh này trên chiếc bo bo. Từ thị xã Vị Thanh, chúng tôi rẽ theo dòng sông Cái Lớn. Bờ phải là huyện Gò Quao của tỉnh Kiên Giang, bờ trái là vùng đất ven sông của huyện Long Mỹ (Hậu Giang). Đại tướng Phạm Văn Trà giới thiệu với chúng tôi:

- Đây là nơi đánh chìm tàu địch, kia là trận địa phục kích diệt gọn một tiểu đoàn địch, sau vườn dừa kia là trạm cứu thương dã chiến của căn cứ Bắc U Minh Thượng. Còn ở phía cánh đồng lúa chín là khu vườn của má Tám, nơi đã nuôi giấu Đại tướng và những người đồng đội khi địch càn quét gắt gao...

Xã Vĩnh Viễn là Trung tâm vùng căn cứ Long Mỹ. Vùng đất ông đã gắn bó từ năm 1964, khi còn là cán bộ chỉ huy phân đội ở Trung đoàn U Minh. Ông nói:

- Về đây như về quê nhà, lâu không về thấy nhớ quá. Bà con ở đây thân tình như ruột thịt. Nơi đây trước kia có một ngôi đình thờ vị anh hùng Nguyễn Trung Trực, nhưng chiến tranh tàn phá sạch trơn. Nay cần xây lại, thờ vị anh hùng Nguyễn Trung Trực và thờ các liệt sĩ đã hy sinh trên đất này trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và làm nghĩa vụ quốc tế ở Cam-pu-chia.

Theo lý giải của Đại tướng Phạm Văn Trà: Xã này nghèo, không có tiền xây đình thờ, bà con mong mỏi lắm. Ông đã vận động Tổng công ty Him Lam (Bộ Quốc phòng) tài trợ hơn 3,5 tỷ đồng để xây ngôi đình. Có được ngôi đình, vui lắm, vì ước mong lâu năm, nay mới được toại nguyện. Đền thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở xã Vĩnh Viễn cũng là nơi ghi công ơn các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, lập bia ghi danh và thờ các anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống trên mảnh đất này.

Theo con đường dọc kênh Trực thăng ở ấp 1, chúng tôi ghé thăm và thắp hương tưởng nhớ Bà mẹ VNAH Phạm Thị Gạo vừa qua đời hồi đầu năm, thọ 91 tuổi. Một căn nhà nằm giữa vườn, bóng dừa choàng lên mái nhà. Đây là căn nhà tình nghĩa, do chính quyền địa phương xây tặng má Gạo, Bà mẹ VNAH có 7 người con liệt sĩ. Ở xã Vĩnh Viễn có 18 Bà mẹ VNAH, nhưng đã ra đi 13 bà mẹ, nay chỉ có 5 bà mẹ còn sống bên con cháu. Nghe tin “người con của quê hương Vĩnh Viễn” về thăm, bà con ra tận bờ kênh đón tiếp. Cuộc gặp gỡ thật cảm động. Tuy Đại tướng đã về đây nhiều lần, tham gia xóa cầu khỉ, bắc cầu bê tông tặng bà con xã Vĩnh Viễn, nhưng mỗi khi nghe tin Đại tướng về với bà con vùng căn cứ xưa, ai cũng cảm động, chờ mong. Lại cười nói râm ran, kể chuyện xưa, chuyện nay. Rồi nhắc lại kỷ niệm, lại rơm rớm nước mắt khi kể về những đồng đội, những bà con đã ra đi... Tôi mở sổ tay cũng không ghi kịp những câu chuyện hết sức cảm động, những kỷ niệm khó quên một thời đạn bom, những tự sự, uớc mong, tâm tình một thời hòa bình. Một cựu chiến binh đã đọc một đoạn trong bài thơ “Nhìn lại dấu xưa” mà ông đã thuộc lòng từ lâu: “Các anh đi/ Chân đất/ Đầu trần/ Hai bàn tay trắng ... / Tiền gạo của dân/ Súng đạn cũng nhờ dân/ Đến từng ấp gom đồng tiền quyên góp/ Dựa sức dân xây căn cứ bưng biền...”.

Đại tướng Phạm Văn Trà còn nhớ rõ từng tên người, từng trận đánh, nhớ cả bà má huy động hơn 30 phụ nữ suốt đêm gói bánh tét kịp chuyển ra trận địa cho bộ đội đón xuân vào sáng mồng một Tết năm 1972...

Rồi chuyện làm ăn bây giờ. Đại tướng hỏi thăm bà con nông dân làm lúa ở đây có còn chuyện được mùa mất giá, chuyện trồng lúa kết hợp nuôi cá rô, cá thác lác, rồi việc xóa cầu khỉ nông thôn, đào kênh thủy lợi, mở đường giao thông nông thôn về xóm ấp. Xưa, chặt cây chuối, kéo cây lục bình, đắp rơm làm công sự. Nay, nuôi lục bình trên kênh, đan hàng mỹ nghệ xuất khẩu, trồng chuối xuất khẩu và nấm rơm cũng xuất khẩu.

Tôi còn nhớ cuối tháng 4-2005, trong chuyến về lại vùng căn cứ bên sông Cái Lớn, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đến thăm khu Di tích chiến thắng 75 lượt tiểu đoàn địch ở xã Vĩnh Viễn. Ông nói: “Trung tuần tháng 8-1973, tôi chủ trì Hội nghị Khu ủy mở rộng để triển khai Nghị quyết 21 của Trung ương, thống nhất chủ trương đánh địch bằng ba mũi giáp công (quân sự, chính trị và binh vận). Chủ trương này đã tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Long Mỹ-Vị Thanh chủ động tiến công tiêu hao sinh lực địch với hơn 200 trận đánh lớn nhỏ, đã góp phần cùng các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long đập tan kế hoạch bình định lấn chiếm của địch, bảo vệ an toàn căn cứ địa cách mạng U Minh”.

Với giá trị và ý nghĩa to lớn của chiến thắng lịch sử này, nơi đây đã được đầu tư hàng chục tỷ đồng xây dựng khu di tích, trong đó có nhà trưng bày với diện tích 360m2, bước đầu trưng bày gần 100 ảnh tư liệu, 52 hiện vật gốc, 17 tượng đài và một sa bàn…

Về Long Mỹ, nghe kể chuyện truyền thống hào hùng của đất và người nơi đây, tôi có cảm giác gặp những cán bộ và người dân ở đây đều thấy ở họ có tố chất người anh hùng. Không dễ dàng mà giữ vững được vùng đất căn cứ này suốt hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Không dễ dàng mà vùng rừng rậm, kênh rạch, lung đìa chằng chịt, đất đai nhiễm mặn vừa ứ phèn lại trở nên những vùng quê trù phú, với ruộng rẫy tươi tốt, vườn cây trái mát xanh. Và cũng không dễ dàng nơi đây trở thành vùng quê đổi mới khá nhanh từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay.

Huyện Long Mỹ đang được đầu tư lớn hàng nghìn tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng. Điện, đường, trường, trạm, chợ nông thôn xây dựng mở rộng, đáp ứng yêu cầu phát triển và phục vụ lợi ích dân sinh. Đó là những điểm nhấn trên con đường bứt phá xây dựng nông thôn mới, mở hướng để từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho vùng quê nghèo Long Mỹ. Có một dự án về giao thông rất táo bạo và sáng tạo mà huyện đã đề nghị tỉnh phê duyệt và cấp vốn xây dựng. Đó là Dự án mở rộng tuyến đường gần 7km từ ngã ba Vĩnh Tường về thị trấn Long Mỹ. Tuyến đường này hiện tại rất hẹp. Huyện phải mở nhanh tuyến đường này để phá dần cái thế bị kẹt “góc khuất” trái nẻo của Long Mỹ. Dòng kênh Mương Lộ thành dải phân cách đường. Dòng kênh ở giữa, hai bên bờ kênh là đường. Bờ kênh có kè chống sạt lở vững chãi, có lối cỏ và hàng cau để trở thành con đường du lịch sinh thái độc đáo cho Long Mỹ. Vùng đất chiến khu xưa này cũng đang triển khai Dự án Khu nông nghiệp công nghệ cao có tổng diện tích 5000ha, thuộc địa phận 4 xã: Lương Tâm, Vĩnh Viễn, Lương Nghĩa, Vĩnh Viễn A. Đây là dự án có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao năng lực của ngành nông nghiệp địa phương và khu vực ĐBSCL. Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao này được đầu tư xây dựng theo hướng là một khu kinh tế đa chức năng như: Lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ, sản xuất dịch vụ cung cấp giống, vật tư, chế phẩm sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hội thảo, hội chợ triển lãm, tham quan, du lịch...

Chúng tôi đến thăm một mô hình nông dân làm ăn giỏi. Đó là gia đình anh Trần Văn Thương ở ấp 6, xã Long Nghĩa, nơi sắp tới sẽ xây dựng Khu nông nghiệp công nghệ cao. So với các địa phương khác trong huyện, xã Lương Nghĩa là nơi có số lượng trâu nuôi nhiều nhất. Ngoài việc chỉ đạo phát triển đàn trâu, xã còn quan tâm đến vấn đề quy hoạch khu vực có điều kiện thuận lợi để nuôi trâu phục vụ sản xuất nông nghiệp và trâu thương phẩm.

Gia đình anh Thương trước đây có hoàn cảnh hết sức khó khăn, nhà có 5 công ruộng, nhưng do đất ở đây bị nhiễm phèn nên năng suất rất bấp bênh. Năm 1994, anh mua một cặp trâu về nuôi, dùng 5 công ruộng để trồng cỏ làm thức ăn cho trâu, từ đó đàn trâu của anh phát triển dần theo từng năm. Bình quân mỗi năm anh bán 2-4 con trâu, mỗi con trọng lượng khoảng 250kg trở lên, thu về gần 100 triệu đồng.

Theo giải thích của anh Thương, nuôi trâu không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn phục vụ tích cực cho sản xuất nông nghiệp, cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng. Ở huyện Long Mỹ đã có nhiều hộ nhờ nuôi trâu mà cuộc sống trở nên khấm khá. Cách đây 7 năm, tổng đàn trâu của huyện chỉ có khoảng hơn 100 con, thì đến cuối năm 2010 đã lên tới gần 1000 con, với hơn 400 hộ nuôi.

Đi thăm các hộ nghèo, các hộ gia đình sản xuất giỏi, làm ăn khấm khá ở Long Mỹ, tôi nhận ra một thế mạnh nền tảng ở đây: Mối quan hệ Đảng với dân rất chặt chẽ, tính đồng thuận cao, bản chất truyền thống tốt đẹp năm xưa đang được phát huy trong cuộc đổi đời rất căn bản và bền vững. Một Long Mỹ nghèo khó trước đây, nhưng rất kiên cường trong kháng chiến, giờ đây đang khởi sắc trong sự nghiệp đổi mới trên đất Hậu Giang anh hùng.

Bài và ảnh: Bùi Văn Bồng

Tin mới