Bây giờ ở vùng sâu Gia Lai...

Xem tin gốc 

Nhân dân - 28 tháng trước 119 lượt xem

Bay gio o vung sau Gia Lai...

ND - Tỉnh Gia Lai có 222 xã, thì đã có đến 68 xã với 309 làng thuộc diện đặc biệt khó khăn. Chỉ cách đây chục năm, nói đến các xã này cũng đồng nghĩa với những khó khăn và đói nghèo, bởi đó là những xã thuộc vùng sâu, vùng xa, giao thông cách trở, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống...

Nhưng bây giờ vùng sâu, vùng xa của Gia Lai đã khác xưa nhiều lắm, không chỉ bộ mặt nông thôn mà đời sống của người dân cũng đã có những đổi thay đáng kể...

Đổi thay từng ngày

Chỉ cách đây năm năm, xã Hà Đông gần như biệt lập với các vùng lân cận. Tiếng là địa bàn thuộc huyện Đác Đoa quản lý và tính theo đường chim bay, xã chỉ cách trung tâm huyện trên dưới hai mươi km, nhưng muốn vào xã phải ngược lên Kon Tum, vào xã Hà Tây (thuộc địa bàn huyện Chư Păh), rồi đi bộ cắt rừng khoảng 18 km mới đến được trung tâm. Ngoài ra, cũng còn một lối đi khác nhưng đường đi khó khăn hơn là xuôi theo quốc lộ 19, xuống huyện Mang Yang, rồi từ xã Ayun ngược lên 60 km với lắm suối, nhiều ngầm. Xã có diện tích tự nhiên đến 20.000 ha, nhưng gần như bỏ hoang; gần 3.000 nhân khẩu, thuộc năm làng đồng bào Ba Na nơi đây, ngoài sản xuất cây lúa rẫy mỗi năm một vụ, còn thì chẳng biết làm gì, nên cuộc sống cứ mãi quanh quẩn với cái đói, cái nghèo. Cũng chính vì vậy mà Hà Đông trước đây là vùng phá rừng làm rẫy vào loại nhiều nhất của tỉnh, với khoảng 400 vụ/ năm.

Gần đây, có dịp trở lại Hà Đông, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên trước những thay đổi nhanh chóng nơi đây. Con đường chính 13,5 km từ huyện vào xã đã được mở không chỉ rút ngắn được khoảng cách về địa lý, mà còn giúp bà con nơi đây thuận lợi trong đi lại giao lưu, mua bán, trao đổi các sản phẩm mình làm ra. Cũng giống như Hà Đông, bà con các dân tộc làng Gôn (xã Ia Din, Đức Cơ) dù cách trung tâm xã không xa, nhưng giao thông cách trở, nên cuộc sống của bà con nơi đây gần như tự cung tự cấp, biệt lập với bên ngoài, nhất là vào mùa mưa. Nhưng đó là chuyện của ngày xưa, làng Gôn bây giờ đã khác... Chúng tôi đến thăm gia đình ông Rơ Chăm Lui, dân tộc Gia Rai, mà theo giới thiệu là một trong những nông dân sản xuất giỏi, vừa khi ông từ thị trấn về. Chỉ vào "con trâu sắt"- xe công nông đang đỗ ở sân, ông bảo: "Mình mua nó được hơn năm năm, vừa ra thị trấn mua máy bơm nước và ống nhựa về tưới cà-phê. Bây giờ có đường to thế này, cái gì cũng về làng mình được, tốt lắm rồi !"... Ở Ia Din, chúng tôi còn đến thăm một số gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số, nhà nào cũng có cà-phê, có nuôi bò, cũng sắm được xe công nông, máy cày tay, máy bơm nước. Đáng mừng hơn, là không chỉ phục vụ cho gia đình, họ còn biết cho thuê để tăng thu nhập. Thế mới hay, từ thuận lợi trong giao thông, dần dần đem đến cho người dân nơi đây những thay đổi quan trọng về nhận thức trong việc cơ giới hóa, biết gắn sản xuất với thị trường. Thực tế, có người cày, lại có người thuê cày ở các làng đồng bào dân tộc thiểu số, cũng là một tín hiệu vui về cách làm ăn mới.

Có thể nói, theo thời gian, cùng với những đổi thay về cuộc sống, về bộ mặt buôn làng, cũng đã tạo nên trong lòng người dân những niềm vui, niềm tự hào. Nếu như niềm vui của Đảng bộ, chính quyền và đồng bào Gia Rai làng Gôn ở Đức Cơ là được cơ giới hóa nhờ vào những con đường mới mở; của người Ba Na, vùng quê hương cách mạng Kbang, là được mở rộng tầm nhìn từ những trung tâm cụm xã, thì người dân Pờ Tó (huyện Ia Pa) lại có một niềm vui riêng: Khách về thăm thế nào cũng được mời dùng thử thứ đặc sản của quê hương cơm Tám thơm được trồng trên "Cánh đồng 135 đoàn kết"... Và, còn nhiều, nhiều nữa những chuyện vui, nếu ta có dịp đến với những nơi được hưởng lợi từ sự ưu đãi của các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo (XĐGN) đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Khi ý Đảng hợp lòng dân

Ý nghĩa về kinh tế thì đã rõ, nhưng quan trọng hơn, các chương trình phát triển KT-XH ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn của Đảng và Nhà nước đem lại về mặt xã hội, mà trước hết đó là sự thể hiện sinh động nhất của ý Đảng-lòng dân. Trong những năm qua, bên cạnh việc tập trung phát triển toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, với mức tăng trưởng GDP bình quân hơn 11% năm, riêng năm 2009 đạt 13,6%, thì cấp ủy Đảng và chính quyền tỉnh Gia Lai đã có nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên cho phát triển vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nhằm nâng cao mức sống cho người dân, đồng thời thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn. Ngoài việc ra Nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo cuộc vận động XĐGN, xác định rõ chương trình mục tiêu XĐGN là nhiệm vụ không riêng của ngành nào, cấp nào, với phương châm chỉ đạo của Tỉnh ủy là tập trung ưu tiên XĐGN cho những nơi khó khăn, vùng căn cứ kháng chiến cũ và vùng biên giới, những nơi có số đông đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống, đồng thời phát động phong trào tham gia XĐGN rộng khắp trong toàn xã hội.

Nhiều mô hình kết nghĩa đã giúp bà con các dân tộc thiểu số vượt qua đói nghèo, ổn định cuộc sống mang lại hiệu quả cao và được nhân rộng như ở huyện Kbang, các lâm trường đứng chân trên địa bàn nhận đỡ đầu các xã; bốn công ty cao-su thuộc Tập đoàn Công nghiệp cao-su Việt Nam, các đơn vị làm kinh tế thuộc Binh đoàn 15, các doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn... ngoài nhận đỡ đầu, kết nghĩa với các làng xã khó khăn còn nhận 9.676 lao động là đồng bào dân tộc vào làm công nhân, nhận khoán hơn 20.960 ha cây trồng các loại, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập.

Ngoài ra, tỉnh đã kết hợp và lồng ghép các chương trình XĐGN với các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình 135, định canh, định cư, các chính sách về đất đai, hỗ trợ vốn cho người nghèo thông qua vay vốn tín dụng ưu đãi đầu tư; hỗ trợ mua nhà trả chậm theo QĐ 132, 134 của Chính phủ và các chính sách xã hội khác... Nhiều công trình dân sinh được đầu tư xây dựng và mang lại hiệu quả thiết thực phục vụ nhu cầu thiết yếu cho người dân như chợ trung tâm, trạm y tế khu vực, hệ thống nước tự chảy tập trung... Bằng nguồn vốn ngân sách, tỉnh đã mua và cấp không hàng trăm nghìn tấm tôn lợp, hỗ trợ 16.990 hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm giúp bà con xóa nhà tranh tre tạm bợ. Một số công tác khác cũng đạt được những kết quả khả quan như đã tổ chức định canh, định cư cho gần 1.000 làng với 70.873 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa về nơi ở mới, gần các trung tâm cụm xã.

Kinh tế phát triển đã kéo theo những chuyển biến tích cực về mặt xã hội, đời sống của người dân và bộ mặt nông thôn đã có những thay đổi đáng kể. Tỷ lệ đói nghèo đến nay còn 14,32%, thu nhập bình quân đạt 12,43 triệu đồng/ người/năm. 100% số xã, phường, thị trấn được sử dụng điện lưới quốc gia và có đường ô-tô đến trung tâm xã; 100% xã, phường có trạm y tế và phòng khám khu vực, trong số đó 40% trạm có bác sĩ. Trên lĩnh vực giáo dục, toàn tỉnh hiện có 723 trường với hơn 340 nghìn học sinh theo học các cấp học; 90% số hộ được nghe đài phát thanh, 85% được xem truyền hình...

Dịp cuối năm 2009 vừa qua, chúng tôi đến xã Yang Bắc, huyện Đác Pơ, nơi có gần 200 hộ dân sinh sống tại bốn làng Krong Tu, Krong Hra, Muôn và Kloe và được hòa cùng cảm xúc vui mừng của bà con khi ngày đầu tiên được thấy ánh đèn sáng lên nhờ nguồn điện lưới quốc gia. Đây là một trong số hơn 100 thôn làng đã được kéo điện về để bà con kịp đón Tết Canh Dần thuộc dự án cấp điện về các thôn làng vùng sâu, vùng xa của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN). Cũng dễ hiểu, bởi từ xưa đến giờ, mọi sinh hoạt của người dân nơi đây đều chỉ dựa vào ánh sáng của bếp lửa được đốt lên từ củi rừng. Mong ước "làng mình sẽ có điện" luôn là câu cửa miệng, mỗi khi có ai hỏi đến. Hôm đó, tôi gặp già Pah, già làng Krong Tu tại nhà rông của làng. Hóa ra đây là đêm đầu tiên dân làng được xem ti-vi tập trung khi làng được kéo điện về. Trong niềm vui khó tả, già nói: Sau bao năm chờ đợi nay làng mình đã có điện rồi. Từ ngày có công nhân về đo vẽ, chọn vị trí chôn trụ điện, đến khi đường dây dẫn đến từng nhà, người dân đều chăm chú dõi theo. Nay thì nhà nhà đều có điện, chính quyền địa phương còn quan tâm cấp cho mỗi làng một ti-vi cùng thiết bị thu phát sóng truyền hình để phục vụ sinh hoạt văn hóa cộng đồng tại nhà rông của làng. Còn ông Đinh Đoàn, 60 tuổi, lại phấn khởi khi cho biết ông vừa mua máy bơm để tưới cho ruộng mía và lúa, giúp gia đình đỡ vất vả... Cùng với ánh sáng của nguồn điện kéo về, có thể nói, đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa Gia Lai, đó còn là sự thể hiện sinh động nhất của "Ý Đảng-lòng Dân".

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang