Bảo vệ môi trường: Trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội

Đại Đoàn Kết - 

Bao ve moi truong: Trach nhiem cua ca he thong chinh tri va toan xa hoi

Đảng ta luôn coi trọng việc bảo vệ môi trường. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nhấn mạnh: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Rác thải quá tải đang đe dọa môi trường sinh thái

ảnh minh họa

Quan điểm chỉ đạo của Đảng

Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; Kết hợp chặt chẽ giữa ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái; Phát triển “năng lượng sạch”, “sản xuất sạch” và “tiêu dùng sạch”; Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu; Bảo vệ và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia; Đặc biệt chú trọng phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược...

Trong bài học kinh nghiệm về phát triển nhanh và bền vững, Đảng ta chỉ rõ: phát triển nhanh phải đi đôi với nâng cao tính bền vững, hai mặt tác động lẫn nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài hạn; Tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong khi khai thác các yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu tố phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức; Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo; Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng; Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển...

Với chiến lược phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, Đảng ta đề ra các quyết sách gắn nhiệm vụ bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế-xã hội; Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Thực hiện nghiêm lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm. Khắc phục suy thoái, khôi phục và nâng cao chất lượng môi trường; Thực hiện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng; tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên; Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm môi trường và cân bằng sinh thái; Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, đánh giá tác động để triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng, chống thiên tai và Chương trình quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng; Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước tăng đầu tư đồng thời có các cơ chế, chính sách ưu đãi để đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực bảo vệ môi trường.

Đảng ta đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt bình quân 7-8%/năm. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 3000-3200 USD. Đến năm 2020, có một số lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế đạt trình độ tiên tiến, hiện đại; cải thiện chất lượng môi trường; chủ động ứng phó có hiệu quả với thiên tai, biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng… Tốc độ tăng trưởng cao là cần thiết, nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, đưa đất nước phát triển hòa nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên, với nhịp độ phát triển kinh tế cao, dân số tăng nhanh sẽ kéo theo một lượng lớn tài nguyên thiên nhiên được khai thác và chất thải từ sản xuất, tiêu dùng ngày càng tăng. Điều này cho thấy, chúng ta phải chú trọng kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững.

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên. Kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Chúng ta cần tránh việc lặp lại những lỗi lầm về môi trường và khai thác tài nguyên của các quốc gia khác đã mắc phải trong quá khứ như là những "lời nguyền của tài nguyên". Vì vậy, phát triển kinh tế không phải đi đôi với bảo vệ môi trường mà phải gắn liền, có tính liên kết hữu cơ với bảo vệ môi trường. Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường như hai mặt của một tờ giấy. Không thể có một sự phát triển kinh tế bền vững mà không có việc bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý tài nguyên. Quan điểm này phải được quán triệt sâu sắc và phải được thế hiện trong mọi quy hoạch, kế hoạch, dù ở quy mô hay loại hình nào. Bảo vệ môi trường cần được gắn với trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân và mọi người dân theo nguyên tắc "mình vì mọi người, mọi người vì mình" là tuyệt đối đúng. Văn hóa môi trường cần được sớm hình thành bên cạnh văn hóa công sở, văn hóa thôn xóm, văn hóa doanh nghiệp.

Thành công của công tác bảo vệ môi trường là giải quyết tốt hàng loạt mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, cục bộ và tổng thể. Công tác này đòi hỏi phải tập trung, kiên trì, giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, tiến hành đồng bộ các biện pháp một cách thường xuyên, liên tục với quyết tâm cao nhất. Ngày nay, giữ gìn môi trường là một tiêu chí quan trọng trong sản phẩm kinh tế, nhất là sản phẩm xuất khẩu; một yếu tố của hội nhập kinh tế quốc tế. Bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, an toàn. An ninh sinh thái là một bộ phận của an ninh quốc gia. Bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh sinh thái và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu là góp phần giữ vững và tăng cường an ninh quốc gia. Vì vậy, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, khó khăn mang tính toàn cầu; là yếu tố bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc gia, nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đòi hỏi phải thay đổi từ thói quen, nếp nghĩ, tâm lý đến hành động của từng người, cộng đồng của từng quốc gia và toàn thế giới. Chính những điều đó hình thành nên đạo đức và nhân văn môi trường và là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh trong thời đại mới.

Thành tựu và những khó khăn, thách thức đang đặt ra

Từ nhiều năm qua, thấu suốt quan điểm của Đảng, các ngành, các cấp, các địa phương đã nổ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường. Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường cũng như cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân đã được nâng lên đáng kể; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt. Chúng ta đã có nhiều cố gắng để ngăn chặn nạn phá rừng, đưa độ che phủ rừng lên 36% diện tích lãnh thổ. Điều kiện vệ sinh môi trường ở nông thôn và thành thị đang từng bước được cải thiện... Nhận thức được biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới, trong đó Việt Nam là một trong số ít nước phải chịu tác động mạnh mẽ nhất, chúng ta đã và đang có những hành động nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu trên tất cả các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, chất lượng phát triển kinh tế - xã hội, nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước và thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta vẫn phải thừa nhận một thực tế là, chất lượng môi trường đang xấu đi rất nhanh. Ô nhiễm lan rộng, mức độ trầm trọng hơn. Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác tràn lan, quá mức, thiếu sự kiểm soát. Nguồn nước mặt, nước ngầm nhiều nơi bị suy thoái, cạn kiệt, đã xuất hiện các “dòng sông chết”. Hầu hết các khu công nghiệp, khu chế xuất chưa có hệ thống xử lý chất thải tập trung, còn nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường chưa được xử lý triệt để. Đa dạng sinh học suy giảm mạnh, gây mất cân bằng sinh thái ở nhiều nơi. Biến đổi khí hậu kéo theo triều cường, thiên tai, thảm họa diễn biến phức tạp, khó lường. Chỉ tính riêng năm 2009, đã có 11 cơn bão, triều cường ảnh hưởng đến nước ta, làm chết 435 người; làm đổ trôi 13.354 ngôi nhà; làm ngập úng, hư hại 237.799ha lúa; làm vỡ 9.424ha ao, hồ nuôi tôm cá; làm sạt, trôi, bồi lấp 3.033.202m3 đất công trình thủy lợi và 10.321.193m3 đất công trình giao thông,... ước tổng thiệt hại là 23.300 tỷ đồng. Thực tế này đang gây cản trở to lớn đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội, đe dọa nghiêm trọng sự phát triển bền vững của đất nước.

Công tác bảo vệ môi trường đang đứng trước nhiều thách thức đáng quan tâm như: thách thức giữa yêu cầu bảo vệ môi trường với lợi ích kinh tế trước mắt trong đầu tư phát triển; thách thức giữa tổ chức và năng lực quản lý môi trường còn nhiều bất cập trước những đòi hỏi phải nhanh chóng đưa công tác quản lý môi trường vào nền nếp; thách thức giữa cơ sở hạ tầng, kỹ thuật bảo vệ môi trường lạc hậu với khối lượng chất thải đang ngày càng tăng lên; thách thức giữa nhu cầu ngày càng cao về nguồn vốn cho bảo vệ môi trường với khả năng có hạn của Ngân sách nhà nước và sự đầu tư của doanh nghiệp và người dân cho công tác bảo vệ môi trường còn ở mức rất thấp; đặc biệt nổi lên là thách thức giữa yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển bền vững của đất nước với yêu cầu tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm.

Cùng với mục tiêu ưu tiên của đất nước là đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh, Đảng ta cũng nhận thức được rằng, kiểm soát và giảm hậu quả của thiên tai là một vấn đề then chốt và đã đề ra chủ trương, kế hoạch hành động quyết liệt để phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Tuy nhiên, kế hoạch hoạt động đó mới chỉ tập trung vào những điều kiện khắc nghiệt của khí hậu ở hiện tại hơn là ứng phó với biến đổi khí hậu tương lai, kể cả những thiên tai và sự bất ổn có thể làm tổn hại đến sự phát triển bền vững của đất nước. Chúng ta cũng đã có được một số kết quả nhất định và đã nhận được sự hưởng ứng, hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều nước trên thế giới. Nhưng đây mới chỉ là bước đầu của công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu, công việc này đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực, bền bỉ, lâu dài của toàn hệ thống chính trị; đồng thời phải tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ.

Hiện nay, cả nước ta có hơn 1500 làng nghề và hơn 200 khu công nghiệp. Các khu công nghiệp và làng nghề đã và đang có những đóng góp rất quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội của đất nước. Những khu vực này cũng là nguồn gây ô nhiễm môi trường chủ yếu và muốn hạn chế nguồn ô nhiễm này, chúng ta rất cần rất nhiều giải pháp, từ chính sách, pháp luật đến công nghệ, kinh phí và ý thức trách nhiệm của các doanh nghiệp và mọi người dân. Mặt khác, đô thị hóa đang diễn ra rất nhanh; tăng dân số và tình hình di dân tự do diễn ra khá phức tạp; nhu cầu sử dụng nguyên liệu và tiêu hao năng lượng ngày càng tăng. Những đặc điểm này tác động mạnh đến môi trường và việc khai thác tài nguyên thiên nhiên của đất nước ta.

Những vấn đề bức xúc về môi trường trên đây là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chính. Thể chế, chính sách về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững vẫn chưa theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Kinh tế phát triển theo chiều rộng, dựa nhiều vào khai thác tài nguyên. Nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất còn sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tư duy coi trọng tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ trách nhiệm bảo vệ môi trường vẫn còn phổ biến. Đầu tư của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân cho bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu. Thể chế và hệ thống tổ chức quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, thiếu nhân lực, nhất là ở các địa phương. Khâu tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém. Thiếu cương quyết trong xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Mục tiêu và giải pháp

Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng nêu rõ mục tiêu chiến lược 2011-2020 là: Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược. Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, với bảo vệ và cải thiện môi trường. Đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 45%. Hầu hết dân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh. 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh mới áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị xử lý chất thải; trên 80% cơ sở sản xuất, kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung. 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn. Cải thiện và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm môi trường nặng. Chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng, trước tiên đối với các vùng dễ bị ảnh hưởng, các vùng ven biển nước ta.

Để tiếp tục thực hiện thắng lợi những mục tiêu bảo vệ môi trường trên quan điểm phát triển bền vững của Đảng và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, trong thời gian tới, chúng ta cần tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, xây dựng nền văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường trên cơ sở đổi mới tư duy, cách làm, hành vi ứng xử, ý thức trách nhiệm với thiên nhiên, môi trường trong xã hội và của mỗi người dân. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết, xây dựng các chuẩn mực, hình thành ý thức, lối nghĩ, cách làm, hành vi ứng xử thân thiện với thiên nhiên, môi trường. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý quyết liệt, giải quyết dứt điểm các vụ việc về môi trường, các vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường. Cần tạo bước chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức sang hành động cụ thể. Lấy chỉ số đầu tư cho môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường, kết quả bảo vệ môi trường cụ thể để đánh giá.

Thứ hai, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế-xã hội. Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Khắc phục suy thoái, khôi phục và nâng cao chất lượng môi trường; Thực hiện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng, tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên; Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm môi trường và cân bằng sinh thái; Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển “năng lượng sạch”, “sản xuất sạch”, “tiêu dùng sạch”; Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.

Thứ ba, coi trọng yếu tố môi trường trong tái cơ cấu kinh tế, tiếp cận các xu thế tăng trưởng bền vững và hài hòa trong phát triển ngành, vùng phù hợp với khả năng chịu tải môi trường, sinh thái cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên và trình độ phát triển. Đã đến lúc “nói không” với tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá; Tăng trưởng kinh tế phải đồng thời với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu cũng phải thay đổi theo hướng có lợi cho tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, hỗ trợ để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn.

Thứ tư, dự báo, cảnh báo kịp thời, chính xác các hiện tượng khí tượng thủy văn, chung sức và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; Tập trung triển khai thực hiện Chiến lược phát triển ngành khí tượng thủy văn đến năm 2020 và hai đề án: Hiện đại hóa công nghệ dự báo khí tượng thủy văn; Hiện đại hóa ngành khí tượng thủy văn; Tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cộng đồng quốc tế trong việc tham gia ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu; lồng ghép các yếu tố biến đổi khí hậu với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011-2020) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2011-2015), xác định các giải pháp chiến lược và chính sách thực thi, bố trí các nguồn lực cần thiết để tổ chức và triển khai thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai. Quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015. Xác lập cơ chế cung - cầu, chia sẻ lợi ích, phát triển bền vững tài nguyên nước và bảo đảm an ninh nguồn nước. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án Luật Tài nguyên nước và các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực tài nguyên nước theo hướng xác lập cơ chế quản lý tài nguyên nước đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xác định danh mục các nguồn nước bị ô nhiễm, cạn kiệt nghiêm trọng; xử lý nghiêm các trường hợp xả nước thải gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, đề xuất giải pháp xử lý, khôi phục. Đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội, mọi người dân tham gia bảo vệ môi trường, làm kinh tế từ môi trường. Tạo điều kiện, hỗ trợ để các tổ chức phản biện xã hội về môi trường, các hội, hiệp hội về thiên nhiên và môi trường hình thành, lớn mạnh và phát triển, đóng góp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường.

Thứ sáu, đẩy mạnh thực hiện “kinh tế hóa” trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản theo hướng giảm cơ chế “xin - cho”, tăng cường áp dụng hình thức đấu thầu quyền thăm dò khoáng sản, đấu giá mỏ để tăng thu cho ngân sách nhà nước và lựa chọn được tổ chức, cá nhân có năng lực, kinh nghiệm tham gia hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; nâng cao tính thống nhất, tránh chồng chéo trong quản lý; tăng cường phân cấp cho các địa phương quản lý khoáng sản; chú trọng thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật... Đồng thời, tiếp tục giảm xuất khẩu thô, đẩy mạnh chế biến sâu nhằm bảo vệ và nâng cao giá trị tài nguyên khoáng sản, hướng tới mục tiêu xây dựng ngành công nghiệp khai khoáng ổn định, bền vững. Phát triển kinh tế biển, bảo vệ an ninh trên biển.

Thứ bảy, hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường, chuẩn bị cơ sở pháp lý cho ứng phó với biến đối khí hậu theo hướng thống nhất, công bằng, hiện đại và hội nhập đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, tiến tới xây dựng Bộ luật môi trường, hình thành hệ thống các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành theo hướng thống nhất, công bằng, hiện đại và hội nhập, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, không rõ trách nhiệm và thiếu khả thi. Hệ thống pháp luật về môi trường phải tương thích, đồng bộ trong tổng thể hệ thống pháp luật chung của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa./.

TS Chu Thái Thành - TBT Tạp chí TN&MT

Theo dangcongsan.vn

Tin mới