Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể: Chỉ có ý nghĩa với các cơ quan quản lý?

Báo Phụ Nữ Online - 

Bao ton di san van hoa phi vat the: Chi co y nghia voi cac co quan quan ly?

PN - Hóa ra, niềm vui quan họ và ca trù được công nhận chỉ làm rộn ràng các phương tiện thông tin đại chúng và các cơ quan quản lý chứ chưa đến cửa những người đang nắm giữ linh hồn của di sản.

Vài ngày sau khi quan họ và ca trù được UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể của nhân loại, hỏi thăm nghệ nhân ca trù nổi tiếng Nguyễn Thị Chúc: "Bà ơi! Mấy hôm nay chắc nhà bà nhiều khách đến chúc mừng lắm". Ca nương cười móm mém: "Có ai đâu con! Chắc mọi người còn bận nhiều việc". Hóa ra, niềm vui quan họ và ca trù được công nhận chỉ làm rộn ràng các phương tiện thông tin đại chúng và các cơ quan quản lý chứ chưa đến cửa những người đang nắm giữ linh hồn của di sản.

Đã ở tuổi 80, bà Chúc là một trong số rất ít nghệ nhân ca trù còn sát cánh cùng các học trò của mình ở CLB ca trù Thăng Long, trong nỗ lực bảo tồn và phát huy nghệ thuật ca trù. Ca nương Phạm Thị Huệ, đệ tử của nghệ nhân cho biết, bà hiện sống một mình trong ngôi nhà nhỏ ở Ngãi Cầu (Hà Nội), gần nhà của các con cháu bà. Ca nương tuổi 80 này vẫn có thể tự nuôi sống bản thân nhờ đi hát. Một đời với ca trù, "phần thưởng" duy nhất mà bà nhận được là danh hiệu Nghệ nhân dân gian do Hội Văn nghệ dân gian phong tặng vào tháng 1/2006. Những khoản trợ cấp hàng tháng, những lời thăm hỏi vào dịp lễ tết mà một "báu vật nhân văn" sống như bà đáng được hưởng đều không có.

Khi được hỏi về những điều này, bà Chúc chỉ cười: "Bà còn được đi hát, còn tự nuôi sống bản thân được là mừng rồi con ạ! Nhiều nghệ nhân còn vất vả hơn bà nên bà không đòi hỏi". Được biết, trong số 200 nghệ nhân, ca nương, đào kép đang tham gia Liên hoan CLB Ca trù toàn quốc năm 2009 tại Hà Nội, có đến hơn 90% không được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Nghệ nhân ca trù Nguyễn Thị Chúc

Cuộc sống "nhiều không" không chỉ là chuyện của riêng nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc. Về thăm "người hát xẩm cuối cùng" của thế kỷ XX Hà Thị Cầu, 90 tuổi, mới thực sự thấm thía sự vất vả trong đời sống của các nghệ nhân cổ nhạc. Nhiều năm nay, nghệ nhân Hà Thị Cầu sống cùng con gái trong một căn nhà nhỏ ở Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình. Hai năm nay, sức khỏe của nghệ nhân suy giảm rõ rệt, gần như không thể đi đâu ra khỏi nhà. Ít ai ngờ, một nghệ nhân danh tiếng như Hà Thị Cầu nghèo khổ đến thế. Gia đình bà nằm trong diện nghèo nhất xã và nhận chế độ trợ cấp dành cho người nghèo. Những đãi ngộ dành cho những "báu vật nhân văn sống" như bà vẫn còn đâu đó rất xa xôi. Những "đồng nghiệp xẩm" danh tiếng của bà như nghệ nhân Minh Sen, Tô Quốc Phương ở Thanh Hóa thậm chí còn không hề nhận được bất cứ một khoản trợ cấp nào, phải lăn lộn nhiều nghề để mưu sinh.

Tương tự như ca trù, quan họ, xẩm... của người Kinh; đồng bào Tày, Nùng, Thái ở miền núi phía Bắc cũng có riêng "di sản" đắt giá là hát Then, đàn Tính. Những năm gần đây, loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp gắn với tín ngưỡng của cộng đồng Tày, Nùng, Thái đang được "nhăm nhe" tiến cử làm hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận. Kéo theo đó là những kỳ liên hoan hát Then, đàn Tính được tổ chức hai năm một lần và nhiều cuộc hội thảo lớn nhỏ. Ở bất kỳ một cuộc hội thảo nào, vấn đề đãi ngộ và lưu giữ "vốn liếng" của các nghệ nhân Then cao tuổi cũng được đặt ra, nhưng ngoài việc thỉnh thoảng được mời đi diễn, được "nhà đài" đến ghi hình, các nghệ nhân vẫn mỏi mắt chờ một sự đãi ngộ.

Một trong những "báu vật" sống quý giá nhất của Then là nghệ nhân Mỗ Thị Kịt (97 tuổi) ở Lạng Sơn, người từng tạo nên một "cơn sốt" nho nhỏ tại Liên hoan hát Then, đàn Tính lần thứ I (Thái Nguyên - 2005) bởi chất giọng có âm sắc trầm, đục rất độc đáo, nhưng những kỳ liên hoan sau, không thấy nghệ nhân này xuất hiện. Hỏi thăm về bà, chỉ được các câu trả lời kiểu "hình như”, "nghe nói"...

Bà Chúc, bà Cầu, bà Kịt chỉ là ba trong số rất nhiều nghệ nhân của các loại hình cổ nhạc vẫn đang mỏi mòn chờ đợi một sự quan tâm, đãi ngộ của Nhà nước - sự quan tâm không nằm trên giấy, không ở các kỳ hội thảo. Nhiều tỷ đồng đã được bỏ ra cho việc lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận các di sản phi vật thể VN trở thành di sản phi vật thể của nhân loại. Danh hiệu của UNESCO và sự thừa nhận của thế giới đành rằng rất quan trọng, nhưng một khi các nghệ nhân - những người nắm giữ linh hồn của di sản không nhận được sự quan tâm đúng mức thì những danh hiệu đó có lẽ chỉ có ý nghĩa đối với các nhà quản lý.

Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 đã được thông qua, theo đó, Nhà nước sẽ có các danh hiệu tôn vinh và chế độ đãi ngộ đối với các nghệ nhân. Trên lý thuyết, luật sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2010, tuy nhiên, để luật này thực sự được triển khai, còn phải chờ các nghị định và thông tư hướng dẫn. Nghĩa là, các nghệ nhân sẽ vẫn còn phải đợi và rất nhiều người trong số họ có lẽ không thể đợi được vì đã gần đất xa trời.

Huyền My