CôngThương - Trong số 4 nền kinh tế của các quốc gia ASEAN cũng trong bảng xếp hạng, có Malaysia đứng đầu với 7.11 điểm đánh giá, Thái Lan được 3.53 nhưng vẫn đứng trên Philippines (2.97) và Indonesia (2.14).
Việt Nam được đánh giá cao nhất trong mục người tiêu dùng, đạt điểm cao nhất (0.67) trong tiểu mục kỹ năng và sử dụng của người tiêu dùng. Mức độ sử dụng thoại cao và điểm sử dụng Internet ở mức tương đối (0.43 điểm trong khung từ 0 đến 1) và thể hiện những con số đáng nể về các chỉ số liên quan đến khối chính phủ. Tuy nhiên, đánh giá không mấy sáng sủa ở khu vực doanh nghiệp chứng tỏ những điều chưa đạt của Việt Nam. Khu vực doanh nghiệp lại chiếm tỉ trọng lớn nhất (67%) trên bảng đánh giá, do vậy, có ảnh hưởng lớn nhất đối với điểm số tổng thể của quốc gia này.
Việt Nam bị đánh giá khá nghèo nàn trên tất cả các tiêu chí thước đo liên quan đến khu vực doanh nghiệp, bao gồm cả mức độ phổ biến kết nối băng rộng trong khối doanh nghiệp, khu vực mà có tỷ lệ đặc biệt thấp ở Việt Nam, tuy nhiên điểm đánh giá chung của hạng mục này được kéo lại chỉ bởi tỷ lệ tuyển sinh trung học khá lớn, đạt điểm tương đối lớn hơn 0.5.
Việt Nam đã duy trì được sức mạnh tiềm tàng trong khu vực người tiêu dùng, ở đó thể hiện điểm kỹ năng và sử dụng CNTT khá cao. Mới được triển khai vào tháng 11/2009, dịch vụ 3G tại Việt Nam được kỳ vọng sẽ mang lại lực đẩy lớn hơn cho sự tăng trưởng của ngành điện thoại di động. Theo dự báo hãng nghiên cứu thị trường IDC, Việt Nam sẽ đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất về viễn thông so với các quốc gia Đông Nam Á khác trong năm nay. Song nước ta cũng phải đối mặt với những thách thức lớn rõ ràng trong các lĩnh vực hạ tầng doanh nghiệp cũng như mức độ sử dụng và kỹ năng trong doanh nghiệp. Những đầu tư vào xây dựng một hạ tầng ICT mạnh mẽ, bao gồm tăng cường độ phủ của kết nối băng thông rộng để hỗ trợ hoạt động kinh doanh cũng sẽ giúp các doanh nghiệp san lấp khoảng cách với các quốc gia tiên tiến về công nghệ hơn.
Connectivity Scorecard là một chỉ số ICT toàn cầu – trước tiên là để xếp hạng các quốc gia không chỉ bởi sự phát triển hạ tầng CNTT-truyền thông của các quốc gia đó, mà còn đánh giá quy mô mà các khu vực chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu dùng cá nhân sử dụng các công nghệ kết nối để nâng cao sự thịnh vượng của xã hội và nền kinh tế. Connectivity Scorecard còn đánh giá về "mức sử dụng và kỹ năng", chẳng hạn như khả năng nhận thức, mức độ sử dụng phần mềm trong doanh nghiệp và khả năng tiếp cận ICT của phụ nữ. Được tài trợ bởi Nokia Siemens Networks, giáo sư Leonard Waverman, Hiệu trưởng Trường Kinh doanh Haskayne, thuộc Trường Đại học tổng hợp Calgary và các đồng nghiệp của Trường Kinh doanh Luân Đôn đã xây dựng nên dự án nghiên cứu này. Có thể tìm thêm thông tin tại: www.connectivityscorecard.org.
T.H