“Bản Lòm đã có mùa xuân rồi !”

Xem tin gốc 

Báo Văn hóa - 29 tháng trước 17 lượt xem

“Ban Lom da co mua xuan roi !”

VH- Già làng Hồ Xếp đã bước qua tuổi 85 nhưng vẫn còn tráng kiện lắm, khi thấy chúng tôi đến bản đã vui mừng khoe: “Đồng bào bản Lòm năm ni vui lắm, từ ngày được Đảng, Nhà nước, Bộ đội Biên phòng làm cho con đường để đi là bản Lòm miềng (mình) đã có mùa xuân rồi”.

“Có đường đi rồi, Giàng ơi!”

Lên huyện miền núi Minh Hóa (Quảng Bình), khi biết chúng tôi có ý định vào vùng Lòm, một vùng đất khó khăn của xã Trọng Hóa, ông Trần Hữu Diện, Phó chủ tịch UBND huyện khuyên: “Đường vào bản Lòm khó đi lắm, nên chọn một ngày nắng ráo mà vào”.

Khi vào khu vực biên giới, chúng tôi thăm Đồn Biên phòng 589 đứng chân tại địa bàn xã Trọng Hóa. Biết chúng tôi vào Lòm, thiếu tá Nguyễn Đức Thuận, Đồn phó phụ trách quân sự nhắn nhủ: “Các anh vô trong đó, gặp anh em ở tổ biên phòng tại bản Dộ sẽ được hướng dẫn tận tình!”.

Rời khỏi quốc lộ 12A, chúng tôi bắt đầu một chuyến đi. Qua hết bản Ra Mai, con đường bắt đầu xuyên giữa núi rừng. Con đường mơ ước của đồng bào dân tộc Khùa, Mày (Chứt) cứ bám theo một bên là núi đá chênh vênh, một bên là vực sâu thẳm, lúc đâm xuống lòng suối, lúc lại chạy lên những con dốc cao hút mắt.

Chỉ chưa đầy 23 cây số mà công trình giao thông vào Lòm mất đến 6 năm trời đằng đẵng để hoàn thành với tổng mức đầu tư đến 80 tỷ đồng. Anh Mai Đức Hợp, đội trưởng phụ trách công trình của Công ty Bình Long, một trong những đơn vị tham gia thi công đường vào Lòm, bây giờ đang đảm nhận công việc khắc phục sạt lở dọc tuyến đường do ảnh hưởng của cơn bão số 9, gọi đó là “công trình thế kỷ”, “con đường mơ ước”. Chẳng thế mà khi hoàn thành đưa vào sử dụng rồi vẫn có người chưa tin đó là sự thật, còn người Mày, người Khùa thảng thốt: “Có đường đi rồi, Giàng ơi!”.

Đường vào bản Lòm

Đổi thay vùng đất mới

Lâu nay nhắc đến vùng đất xa xôi heo hút, sâu thẳm giữa núi rừng Trường Sơn này nhiều người thường gọi là bản Lòm, nhưng thực ra, theo lời giải thích của thiếu tá Trần Danh Tuyên, cán bộ vận động quần chúng của Đồn biên phòng 589- hiện tại đang “ba cùng” với dân bản: “Gọi tên vùng Lòm thì đúng hơn, ngày trước, bà con dân tộc sống du canh, du cư lập bản trên những đỉnh núi cao chót vót, từ bản này đến bản khác phải mất cả ngày đường.

Nghe theo Đảng, theo cán bộ dưới xuôi, nghe lời tuyên truyền vận động của Bộ đội Biên phòng, đồng bào đã “hạ sơn” xuống định canh định cư tại vùng đất bây giờ, hình thành nên bốn cụm bản: Dộ, Tà Vừng, KChăm và Si. Bản Si là bản cuối cùng gần với cột mốc biên giới N11 nhất, giáp bản Cô- Ne của nước bạn Lào. Từ bản Si lên cột mốc N11 đi bộ mất một ngày đường”.

Dân số vùng Lòm hiện tại có 108 hộ, 627 khẩu, trong đó bản Dộ 33 hộ, 188 khẩu; bản Tà Vừng 22 hộ, 128 khẩu; cụm bản KChăm- Si 53 hộ, 311 khẩu. Hồ Biên, trưởng bản Si kể rằng: “Trước đây, đồng bào trồng được một chút lúa rẫy, còn chủ yếu cái ăn hằng ngày là sắn. Đói lắm cán bộ ơi! Những ngày mưa lũ, các bản vùng Lòm bị cô lập, gạo cứu trợ dưới xuôi lên không đưa vào được, đói đứt bữa. Nay thì khác rồi, Nhà nước cho gạo ăn, làm nhà cho ở, xây trường cho con em học... ưng cái bụng lắm!”.

Trẻ em vùng Lòm

Hồ Xăng, người bố của 5 đứa con thêm vào: “Mấy đứa con của tui được đi học hết cả, trước nhờ cán bộ biên phòng dạy cho cái chữ, nay con em của bản đã có thầy cô giáo miền xuôi lên rồi. Nói thiệt cái bụng, có con đường dân bản ơn Đảng và Nhà nước nhiều lắm. Ngày trước mỗi khi có người đau ốm phải khiêng đi mất đến ba ngày đường. Bây giờ, mượn cái xe máy, chở ra trạm xá chỉ chưa đầy ba giờ đồng hồ!”. Bản Dộ, bản Tà Vừng, bản Si đã hình thành nên các cụm trường học, con em dân bản được học ngay từ cấp mầm non và lớp một, lớp hai. Có 10 thầy cô giáo dưới xuôi lên cắm bản, và 128 học sinh lớp một, lớp hai theo học ở các điểm trường.

Già làng Hồ Xếp được đồng bào tại các bản kính trọng lắm! Già vững chắc như cây lim, cây gỗ tốt giữa đại ngàn, đã sống gần trọn một đời người, chứng kiến bao biến thiên, thăng trầm của vùng Lòm. Từ cái thời đi hết ngọn núi này đến ngọn núi khác mà người Khùa, người Mày vẫn đói cơm, rách áo, đau ốm, bệnh tật vì “cái con ma rừng” vô hình trong tiềm thức cho đến bây giờ. Già nói: “Chừ chết cũng cam, có con đường, người dưới xuôi lên, dân bản biết học cái hay, cái tốt, cái văn minh. Già nói với con cháu: nên nghe lời Bộ đội Biên phòng dạy, làm theo Bộ đội Biên phòng làm, rào làng, rào bản mà trồng cây, nuôi lấy con bò, con gà, con lợn. Nên ăn chín uống sôi, giữ lấy vệ sinh quanh nhà, quanh bản. Đau ốm thì nên đến nhờ thuốc của bộ đội, nặng lắm thì ra trạm xá, bệnh viện, đừng tin vào “con ma rừng”.

“Người Khùa, người Mày vùng Lòm ngày trước rất xa lạ, không biết đến cái tết cổ truyền như người dưới xuôi- già làng Hồ Xếp bảo thế- đồng bào chỉ có hai cái tết riêng của mình là tết xuống đồng và tết cơm mới. Còn cái tết cổ truyền... Già Hồ Xếp dừng lại, ngó lên ngọn núi khuất ẩn trong làn mây trắng khề khà- Hỏi cán bộ biên phòng nghe!”.

Thiếu tá Cao Tiến Hân, Chính trị viên phó Đồn biên phòng 589 cho biết: “Bà con bắt đầu làm quen với Tết cổ truyền từ khi sống định canh định cư tại Lòm. Ngày trước Đồn biên phòng 585- Cà Xèng đóng tại. Cứ mỗi lần đón Tết cổ truyền, cán bộ, chiến sĩ của Đồn đều mời dân bản chung vui, rồi qua từng năm, bà con quen dần và bây giờ Tết cổ truyền của dân tộc không thể thiếu trong đời sống, sinh hoạt của đồng bào”.

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang