Thị trường xuất khẩu gạo trên thế giới ngày càng có yêu cầu cao về chất lượng gạo xuất khẩu, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt. Đưa các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao (CLC) hiệu quả vào sản xuất đại trà, nông dân có nhiều lợi ích khi gắn với mô hình sản xuất trở thành một thách thức lớn và bức thiết. Tình trạng nhiều mô hình được đánh giá là hiệu quả, nhưng khi đưa vào sản xuất đại trà đã “chết yểu” do nhiều nguyên nhân.
Hướng đến lợi ích của nông dân
Qua trao đổi với nhiều nhà khoa học, chuyên gia nông nghiệp ở ĐBSCL, chúng tôi đều có chung một nhận định là nhiều mô hình sản xuất lúa CLC rất hiệu quả nhưng lại khó khăn trong mở rộng sản xuất đại trà. Các khó khăn như: Thiếu lúa giống CLC; tập huấn kỹ thuật đến với nông dân chưa tốt, khâu tiêu thụ còn yếu kém… đã dẫn đến tình trạng nông dân bỏ giống lúa CLC để quay lại với giống lúa truyền thống có năng suất, chất lượng kém. Nhưng một nguyên nhân xuyên suốt là sự liên kết “Bốn nhà” còn lỏng lẻo. Nhà khoa học chưa có giải pháp nhân rộng các mô hình lúa giống có CLC, nhà doanh nghiệp không mặn mà với việc kinh doanh lúa giống vì lợi nhuận không cao… và nhà nông chưa có mối quan hệ chặt chẽ với các “nhà” để đưa ra giải pháp sản xuất đủ giống lúa CLC để trồng trên tất cả diện tích canh tác.
Nhằm đưa ra những giải pháp trước mắt đẩy nhanh mở rộng mô hình trồng lúa CLC, Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL cho rằng:
- Các địa phương phải nhanh chóng tổ chức lại sản xuất theo hướng cánh đồng một giống ở những tổ hợp tác, trang trại, hợp tác xã. Điều này sẽ thuận lợi cho việc gieo sạ đồng loạt, khống chế dịch bệnh và thực hiện quy trình cơ giới hóa một cách đồng bộ. Ngoài ra cần nghiên cứu thêm nhiều giống lúa cho chất lượng hạt gạo tốt, ngon và đảm bảo xuất khẩu. Giống lúa phải chống chịu được sâu bệnh và thích nghi đối với tình trạng biến đổi khí hậu sẽ diễn ra trong thời gian tới. Do vậy theo tôi trong sản xuất phải chọn giống lúa đáp ứng những yêu cầu này. Trong đó, theo quan điểm của tôi thì chúng ta nên sản xuất 40% lúa thơm và lúa thường, 60% còn lại nên tập trung cho các giống chất lượng cao.
Ở Sóc Trăng, giống gạo thơm Sóc Trăng trong mấy năm qua đã khẳng định được chất lượng, tạo được thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” và đang được ngành nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng tổ chức nhân rộng trong và ngoài tỉnh. Ông Đào Duy Sự, Phó chánh Văn phòng Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Sóc Trăng, chủ nhiệm dự án: “Tạo lập và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Gạo thơm Sóc Trăng” cho sản phẩm gạo thơm của tỉnh Sóc Trăng” chia sẻ kinh nghiệm:
- Muốn hạt gạo có CLC, đạt giá trị kinh tế cao đòi hỏi cần phải tạo thương hiệu cho hạt gạo. Quá trình này đòi hỏi phải bắt đầu từ loại giống lúa, nguồn cung ứng giống, nông dân chủ động về kỹ thuật sản xuất, bảo quản, tiêu thụ, bảo hộ sản phẩm. Lâu nay, do các loại giống CLC làm thí điểm rất hiệu quả nhưng đưa vào sản xuất do không gắn quy trình, không có sự liên kết giữa nông dân, nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp nên các loại giống đó bị “chết yểu”. Kinh nghiệm của loại giống gạo thơm Sóc Trăng tạo được chỗ đứng là nhờ gắn liền với quy trình, lợi ích sản xuất của các bên liên quan. Nhờ vậy, các khâu đồng nhất giống lúa, chất lượng chế biến gạo, nguồn nguyên liệu thu mua và khâu bảo quản lúa thương phẩm đã được gắn kết, hỗ trợ nhau tạo được quy trình sản xuất khép kín.
Mở hướng đồng lúa chất lượng cao
Mô hình sản xuất lúa CLC được xem là một quy trình khép kín, nhất thiết phải có sự tham gia của 4 nhà gồm: Nhà nông, nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp. Trao đổi về vấn đề này đồng chí Huỳnh Minh Chắc, Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang, cho biết: Hậu Giang là tỉnh thuần nông, hơn 85% dân số sống bằng nông nghiệp. Trong 5 năm thành lập tỉnh, ngành nông nghiệp đã triển khai nhiều biện pháp để hướng đến mở rộng diện tích lúa CLC gắn liền với mô hình sản xuất hiệu quả. Tỉnh đã tổ chức xây dựng những “Ngân hàng lúa giống”, tập huấn kỹ thuật cho nông dân, hỗ trợ vay vốn mua máy gặt đập liên hợp, xây dựng mối liên kết giữa doanh nghiệp xuất khẩu với nông dân… Với nhiều hình thức, nhưng có một nhận thức cụ thể là luôn coi nông dân đóng vai trò chính cho quy trình sản xuất lúa CLC. Phải giúp nông dân có đủ kiến thức, kỹ thuật, vốn và phương tiện làm chủ quy trình sản xuất lúa CLC trên ruộng đồng, giúp họ đảm bảo lãi để ổn định cuộc sống và tái sản xuất.
Phó GS,TS Dương Văn Chín, Viện lúa ĐBSCL cho rằng: Khó khăn của sản xuất lúa CLC hiện nay lại nằm ở việc cung ứng giống lúa CLC. Khi tổ chức sản xuất lớn, nguồn giống lúa CLC bị thiếu hụt gay gắt, nông dân phải chạy đôn chạy đáo tìm mua và thậm chí phải chịu giá cao. Giải pháp dài hạn là đề nghị Bộ NN&PTNT nên có chủ trương xây dựng tiêu chuẩn một cấp giống thấp hơn cấp xác, để nhiều thành phần xã hội tham gia nhân giống.
An Giang được coi là địa phương đi đầu trong xây dựng những mô hình sản xuất lúa CLC ở ĐBSCL. Hiện nay giống lúa xác nhận CLC của tỉnh đã chiếm đến 90% diện tích gieo trồng. Ông Huỳnh Thế Năng, Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho biết: Kinh nghiệm của tỉnh An Giang là huy động được sự vào cuộc của cả “4 nhà” tham gia vào mô hình sản xuất lúa CLC. Chính quyền các huyện, thị xã, trung tâm khuyến nông tuyên truyền, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật. Các công ty kinh doanh lương thực và nông dược trên địa bàn chung tay cùng với ngành Nông nghiệp đối ứng kinh phí để cùng chung tay sản xuất lúa CLC.
Mở rộng những cánh đồng lúa CLC rất cần sự vào cuộc của cả “4 nhà”, gắn liền với quy trình sản xuất. Chỉ có sự liên kết này mới thực sự là hướng mở cho hạt gạo Việt Nam ngày càng được khẳng định cả về chất lượng và số lượng, tạo thế cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu, đồng thời đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đưa sản xuất lúa gạo ở “vựa lúa, gạo” của cả nước theo hướng bền vững.
Bài, ảnh: Trung Kiên, Bá Hiên, Nguyễn Kiểm
Các bài liên quan:
Bài 2: Trồng lúa chất lượng cao gắn với bao tiêu sản phẩm
Bài 1: Trồng lúa: “Bức tranh muôn màu”