Bạch công tử - ông hoàng khi chết không có đất chôn

Phunutoday.vn - 

Bach cong tu - ong hoang khi chet khong co dat chon

(Phunutoday) - Bạch công tử (tên thật Lê Công Phước, còn có tên Tây là George Phước) cùng với Hắc công tử (tức Trần Trinh Huy - công tử Bạc Liêu) hợp thành bộ đôi ăn chơi phóng đảng nhất ở “Lục tỉnh nam kỳ” qua mọi thời đại. Vào thời vàng son (khoảng thập niên 1920 và 1930), khi Trần Trinh Huy nổi lên với biệt danh “công tử Bạc Liêu”, thì Lê Công Phước cũng đình đám không kém với biệt danh “ông hoàng ăn chơi”. Bộ đôi này đã để lại giai thoại bất hủ “đốt tiền làm đuốc tìm tiền” và “đốt tiền nấu chè”.

Trong khi Hắc công tử còn duy trì được cuộc sống phong lưu cho tới khi chết vì tuổi già (năm 1973), chỉ đến đời các con ông mới bị khánh kiệt, nghèo khổ, thì những đam mê “tứ đổ tường” đã làm cho Bạch công tử sớm trắng tay khi còn khá trẻ và chết trong nghèo khổ, bệnh tật (năm 1950), khi chết không có đất để chôn. Câu chuyện của Bạch công tử (và cả Hắc công tử) làm người đời quan tâm theo dõi vì nó là bài học dễ thấy nhất, dễ thuộc nhất về luật nhân quả của cuộc đời.

Thời hoàng kim, Lê Công Phước (sinh năm 1901) được giới ăn chơi khắp Nam, Trung, Bắc tôn sùng là “ông hoàng” vì phong cách ăn chơi rất phong lưu mang dáng dấp của giới quý tộc phương Tây. Không chỉ nổi tiếng trong nước, ngay tại Paris tráng lệ Lê Công Phước cũng được xem là ông hoàng khi luôn xuất hiện ở những nơi ăn chơi nổi tiếng dành cho giới quý tộc, thượng lưu, bên tay luôn kè kè 1 cô gái Nga xinh đẹp dòng dõi quý tộc Sa hoàng…

Đi du học… nhảy đầm

Bây giờ, khi về vùng Chợ Gạo – Tiền Giang, hỏi thăm mộ của Bạch công tử, nhiều người lớn tuổi đều biết. Không những biết nơi ông được chôn nhờ sau khi chết vì không còn đất nhà để chôn, các cụ già ở Chợ Gạo – Tiền Giang còn có thể ngậm ngùi kể hàng giờ về cuộc đời “lên voi xuống chó” chỉ trong chớp mắt của con người nổi tiếng ăn chơi bậc nhất vùng đất trú phú bên bờ sông Tiền này. Lê Công Phước là con trai thứ tư của Đốc phủ Lê Công Sủng, người ở làng Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho trong “Nam kỳ lục tỉnh”, nay thuộc phường 3, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Theo các sử liệu còn lưu lại, Lê Công Sủng là người gốc miền Trung, có thể Quảng Nam hoặc Bình Định, được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm làm quận trưởng quận Châu Thành (tỉnh Mỹ Tho) vào đầu thập niên 1880. Sau đó được chuyển về làm quận trưởng quận Chợ Gạo (cũng thuộc tỉnh Mỹ Tho) và cất nhà định cư tại đây. Ban đầu, khi mới vào Mỹ Tho làm quan, Đốc phủ Sủng chưa phải là người giàu có.

Ông có nhiều vợ, trong đó có bà Đào Thị Linh là người ở Chợ Cũ, thành phố Mỹ Tho, có quốc tịch Pháp, hai người có 1 đứa con chung là Lê Công Phước, tức George Phước. Bà Linh bất ngờ bị bệnh lao, là bệnh nan y lúc bất giờ, và chết khi còn rất trẻ, để lại cho cha con ông Sủng một gia tài lớn vốn là của hồi môn khi lấy chồng. Với thế lực của mình, cũng là người có máu làm ăn, chẳng bao lâu Đốc phủ Sủng trở nên giàu có nhất nhì vùng Gò Công – Mỹ Tho, ruộng đất “cò bay thẳng cánh”.

Lê Công Phước thời vàng son.

Vào lúc giàu có tột bậc ấy, Đốc phủ Sủng không thể nào hình dung nỗi chỉ ba bốn chục năm sau, người con trai kế nghiệp mình lại nghèo khổ tới mức chết không có đất chôn, phải chôn nhờ trên phần đất của người khác vốn trước đây là sở ruộng của Đốc phủ Sủng. Lúc ấy, là người có thế lực và giàu có trong vùng, Đốc phủ Sủng đã được cử làm đại diện cho tỉnh Mỹ Tho đi dự hội chợ bên Pháp năm 1909, đó là vinh dự rất lớn thời ấy mà không phải ai có tiền hay có quyền cũng có thể lo được. Chuyến đi hội chợ du lịch ấy đã là duyên cớ để Đốc phủ gửi đứa con quý tử Lê Công Phước sang Pháp du học sau đó mấy năm. Dường như đó không phải là quyết định sáng suốt trong cuộc đời Đốc phủ Sủng, bởi vì nó là cơ duyên cho sự ăn chơi trụy lạc, vô độ đến mức tán gia bại sản của Lê Công Phước.

Do sớm xa gia đình, lại sẵn tiền bạc gia đình cung phụng vô điều kiện, Lê Công Phước đã sớm học đòi thói ăn chơi giữa chốn Paris tráng lệ, còn học hành chỉ cho có lệ. Sau nhiều năm “học tập”, cậu Tư Phước về nước mà không đỗ đạt được bằng cấp gì, ngoài “bằng cấp” ăn chơi và nhảy đầm. Ông Đốc phủ Sủng rất tức giận, ông từng kỳ vọng đứa con trai “du học bên Tây” về sẽ làm nên chuyện lớn – chấn hưng kinh tế nước nhà, mà với đầu óc của vị quan có ít nhiều tinh thần dân tộc, ông rất muốn làm nhưng không biết phải làm bằng cách nào và bắt đầu từ đâu. Thời ấy giới nhà giàu, quan lại ở miền Tây Nam bộ xem việc cho con đi du học ở “mẫu quốc” là mốt thời thượng, họ sẵn sàng chịu tốn kém để được tiếng có con đi Pháp du học, và khi con học thành đạt trở về họ đón rước long trọng, xem đó là sự kiện lớn, là niềm, tự hào của gia đình, dòng họ. Thế nhưng, không ít con cái của giới địa chủ, nhà giàu khi ấy đi Tây chơi giỏi hơn học, mà điển hình là Hắc công tử và Bạch công tử. Sau khi đón rước rỉnh rang đứa con đi học bên Pháp về, Đốc phủ Sủng khi biết con mình không học hành nên trò trống gì, đã giận tới mức bắt phạt cậu “quý tử” gánh hồ phục vụ cho thợ xây khi ông cất ngôi nhà mới ở thành phố Mỹ Tho.

Dù rất bất bình, nhưng cũng do biết lỗi của mình, cậu Tư Phước đã chịu làm “cu li” phụ hồ mấy tháng trời cho đến khi cất xong ngôi nhà, nhờ đó mà ông Đốc phủ Sủng nguôi giận. Nếu như ông Đốc phủ Sủng không qua đời sớm vào cuối thập niên 1920, khi mà cậu Tư Phước còn quá trẻ, thì có lẽ sản nghiệp của Đốc phủ Sủng để lại không sớm tiêu tan vì đứa con yêu quý của ông sa vào con đường ăn chợi trụy lạc, rồi chết không có đất để chôn.

Một cụ già gần 90 tuổi ở ấp Thạnh Khiết - xã An Thạnh Thủy – huyện Chợ Gạo, nơi có ngôi mộ nhỏ của Bạch công tử, sau khi kể chuyện cuộc đời của “cậu Tư Phước”, đã bùi ngùi nói: “Ngày trước ruộng đất vùng này là của cậu Tư Phước, ba má tui từng làm tá điền cho ổng. Rồi ruộng đất bị ổng bán dần cho người khác để lấy tiển ăn chơi. Đến khi ổng chết đem về đây chôn nhờ trên đất của ông Nguyễn Ngọc Phi, tui có đi đưa tang, dù không thân thuộc gì nhưng tui cứ chảy nước mắt khi chứng kiến cái kết cục bi thảm của ổng”. Đứng trước ngôi mộ nhỏ trong góc một khu vườn không có người chăm sóc trong một xóm nghèo heo hút, trên tấm mộ bia ghi: “Bạch công tử - George – Lê Công Phước”, tôi cố hình dung một thời George Phước từng sống như ông hoàng giữa Paris tráng lệ.

Ông hoàng quý tộc phương Tây

Sau khi Đốc phủ Sủng mất, được toàn quyền thừa hưởng gia sản kếch sù của cha mẹ để lại, Goerge Phước bắt đầu con đường ăn chơi vô độ của mình. Không chỉ ăn chơi, cậu Tư Phước còn luôn tỏ ra hào phóng, luôn sẵn sàng giúp đỡ những người túng thiếu đến xin tiền cậu, xem đó như là cái mốt thời thượng của những kẻ lắm tiền, nhiều của. Có lẽ nhờ sự hào phóng với bạn bè, những người xung quanh, mà không bao lâu sau, khi Lê Công Phước trở nên khánh kiệt, nghèo khó và bệnh tật, ông đã được nhiều người bạn cưu mang, chạy chữa bệnh cho ông. Rồi khi ông qua đời trong cô độc, không còn miếng đất để chôn, một người bạn của ông đã đem ông về chôn cất trên đất nhà mình và cử người chăn sóc mả mồ, thờ cúng hàng năm.

Ngôi nhà của Đốc phủ Sủng ngày trước, nay là trụ sở cơ quan của huyện Chợ Gạo.

Trở lại câu chuyện khi ông Đốc phủ Sủng mới qua đời, cậu Tư Phước bất ngờ ngồi trên một đống tiền của, cậu tính chuyện quay lại Paris tráng lệ để thỏa chí chơi bời mà khi còn là cậu học sinh du học cậu phải dừng lại ở chừng mực cho phép. Dịp đi Pháp đã tới, khi đại bang (tiếng gọi đoàn hát cải lương lớn thời đó) Phước Cương được mời qua Pháp biểu diễn năm 1931. Là người rất ham mê cải lương, lại đang có ý định trở lại Pháp ăn chơi một chuyến, cậu Tư Phước tình nguyện đi Pháp cùng đoàn Phước Cương để hướng dẫn đoàn lưu diễn. Khi sang Pháp, George Phước đem theo cả một người đầu bếp để nấu riêng cho mình bữa ăn trưa hàng ngày, chỉ bữa ăn trưa mà thôi, vì các bữa ăn còn lại đều diễn ra ở những nơi ăn chơi sang trọng, nổi tiếng nhất Paris.

Vốn đã từng ở Paris nhiều năm, nay trở lại với rủng rỉnh tiền bạc trong va li, Lê Công Phước nhanh chóng kết thân với nhiều người sở tại, kể cả người Việt định cư tại Pháp và dân Pháp. Trong số đó có cả giới trí thức, quý tộc Paris, nhờ đó George Phước ăn chơi mang phong cách một nhà quý tộc Châu Âu đúng nghĩa. Trong gần suốt 2 năm 1931 – 1932 “đập phá” trên đất Pháp, không biết Lê Công Phước đã tiêu tốn bao nhiêu tiền, không biết bao nhiêu mẫu ruộng ở Mỹ Tho – Gò Công mà ông Đốc phủ Sủng dày công gầy dựng, đã đội nón ra đi. Chỉ biết là sau chuyến đi ấy, George Phước trở về nước với biệt danh “ông hoàng ăn chơi”.

George Phước đã nổi tiếng với danh hiệu này ngay từ khi còn ở Paris, những người Việt tại Pháp và cả giới ăn chơi Paris tôn sùng Lê Công Phước là “ông hoàng”, một phần do không biết nhờ đâu mà ông đã “sắm” được cho mình một người tình quý tộc thuộc dòng dõi Nga Hoàng Nicolai II, một cô gái Nga tuyệt đẹp tên là Princesse Olga. Lúc ấy dân ăn chơi quý tộc ở Pháp gọi George Phước là "Ông Hoàng xứ Galles" (Prince de Galles), là tước hiệu danh giá của giới quý tộc Châu Âu cho tới tận ngày nay.

Thời gian ở Paris, mỗi ngày George Phước đều mặc một bộ đồ khác nhau, là những kiểu trang phục quý tộc nổi tiếng thời đó ở Châu Âu, như Habit hay Smoking. Cùng với trang phục “không đụng hàng”, lúc nào George Phước cũng đội nón Flécher, ngậm xì-gà, tay cầm ba-ton bằng gỗ mun bịt vàng. Mùa lạnh George Phước khoác thêm áo khoác ngoài bằng da thú hoặc bằng loại vải đắt tiền nhất lúc ấy ở Pháp. George Phước thuê hẳn phòng đặc biệt tại 1 khách sạn ở trung tâm Paris để ở dài hạn.

Hàng ngày ông và nhóm bạn Tây có, Việt có chỉ ăn uống buổi trưa tại khách sạn nơi ở do người bếp ông đưa từ Việt Nam sang nấu. Còn buổi tối họ đến các nhà hàng danh tiếng để ăn nhậu, mà nơi họ thích nhất là nhà hàng Table des Mandarins. Sau khi ăn tối họ kéo nhau đi nhảy đầm, George Phước luôn khoác tay người tình Psincesse Olga tại các hộp đêm ở khu Montmartre hay khu Saint Germain des Prés, khu Champs Élyseé....

Một người bạn thân người Việt ở Paris của Lê Công Phước là Chu Mậu, một thanh niên tài hoa, ăn chơi đúng mức ở đất Paris nhờ nghề cắt may các bộ đồ đúng mốt thời đó (như Habit, Smoking) mà vẫn phải bái phục “ông hoàng” George Phước. Sau này Chu Mậu kể lại: Mỗi ngày cậu Tư Phước xuất hiện với hình ảnh một nhà quý tộc khác nhau nhờ vận những bồ đồ khác nhau, khi là bá tước, khi công tước, lúc là hầu tước…Trong những đêm dạ hội, George Phước đúng nghĩa là một ông hoàng, khi cùng “công chúa’ Olga, cây đinh của những buổi tiệc tùng sang trọng, khoác tay nhau trước bao cặp mắt thèm thuồng, ganh tị. Trong gần 2 năm ăn chơi ở Âu Châu, “ông hoàng xứ Galles” George Phước có một lịch trình hưởng các lạc thú khắp nơi trên đất Pháp.

Vào mùa hè, ông cùng các bạn tự lái xe xuống phía Nam, hưởng không khí trong lành tại các thành phố biển nổi tiếng của Pháp nằm bên bờ Địa Trung Hải như Canne, Nice... Ban ngày họ tắm biển, thuê du thuyền đi ra biển câu cá, có khi ngủ đêm trên biển. Họ cũng không bỏ qua các hộp đêm sang trọng ở các thành phố biển. Không chỉ “quậy phá” trên nước Pháp, để tăng thêm cảm giác, Goerge Phước còn cùng Pricesse Olga vượt rặng núi Pyréneés qua Tây Ban Nha xem đấu bò hoặc khiêu vũ cùng những võ sĩ bò tót. Đến mùa Đông, George Phước thích cùng Olga hưởng riêng lễ Giáng Sinh tại Paris, sau đó hai người đi trượt tuyết ở núi Alpes hoặc các khu du lịch, thể thao mùa đông nổi tiếng khác.

Một người bạn tên Thanh của George Phước còn lưu lại lịch trình 1 ngày của “ông hoàng xứ Galles” như sau: Khoảng 4 giờ chiều, George Phước cùng cả nhóm đến họp bạn tại một quán cà phê ở khu Montmartre. Tại đây, chủ nhà hàng luôn kê sẵn hai bàn dài trải thảm đỏ chỉ dành riêng cho họ. sau đó, từ 5 giờ chiều đến khoảng 7 – 8 giờ tối, cả nhóm kéo nhau đi “trà vũ”. Rồi họ đến một nhà hàng quen thuộc Tables des Mandarins dùng cơm tối. Sau đó họ đi khiêu vũ cho đến 1 giờ̀ khuya. Ăn khuya xong, họ về khách sạn thay đồ Smoking hoặc Habit để đi đến các hộp đêm cho tới sáng. Khoảng 6 giờ sáng, họ ăn điểm tâm nhẹ, thường là món Soupe d’oignons.

Xong, họ kéo vào rừng Boulogne chèo thuyền trên những chiếc hồ nhỏ hoặc câu cá giải trí. Khoảng 8 – 9 giờ họ về khách sạn ngủ đến 2 - 3 giờ trưa. Thức dậy, George Phước ra vườn hoa đi bách bộ, tập thể dục, trong khi ở khách sạn người đầu bếp riêng từ Việt Nam sang đang làm sẵn cho ông bữa ăn trưa với nhiều món ăn thuần Việt. Không biết do ăn chơi mãi rồi cũng chán hay do chi phí ăn chơi ở “thủ đô ánh sáng” Paris quá tốn kém, mà vào cuối năm 1932 Lê Công Phước rời nước Pháp trở về “cố quốc”, bỏ lại nàng công chúa xinh đẹp dòng dõi Sa hoàng.

Lừng danh khắp 3 kỳ

Sau gần 2 năm ăn chơi trên khắp nước Pháp, trở về nước Lê Công Phước nổi danh “ông hoàng”, không có đối thủ về ăn chơi, ngoại trừ công tử Bạc Liêu. Về nước, Lê Công Phước “vừa làm vừa chơi” bằng cách lập gánh hát Huỳnh Kỳ, đi lưu diễn khắp miền lục tỉnh. Thời đó đường bộ chưa phát triển, việc đi lại ở miền Tây chủ yếu bằng đường sông. Các đại điền chủ ở miền Tây thường đi lại bằng ghe bầu, ai sang lắm thì sắm ca nô, nhưng riêng cậu Tư Phước, nhờ học lóm ở bên Pháp, đã đặt đóng cho riêng mình một chiếc du thuyền để đi lại trên sông, thường đậu túc trực dưới sông Bảo Định trước chợ Mỹ Tho.

Do lúc đó du thuyền của Pháp chưa nhập vào Việt Nam, mà cũng có thể George Phước không đủ khả năng đặt mua du thuyền trị giá hàng triệu đồng bảng Pháp, nên ông đã sáng kiến đặt đóng chiếc ghe bầu loại lớn, cao 2 tầng, trang bị đầy đủ các tiện nghi giống như du thuyền, có cả phòng ngủ riêng từng người, nhà vệ sinh, chỗ ăn uống, nơi ngồi câu cá giải trí…Tất nhiên là “du thuyền” này di chuyển bằng máy động cơ nhập từ Pháp về, chứ không giống như hầu hết ghe bầu trên sông rạch miền Tây di chuyển còn bằng chèo tay. Khỏi phải nói, chiếc “du thuyền” 2 tầng có cả đèn điện của George Phước đi tới đâu là gây xôn xao ở đó, người dân miền Tây cứ trồm trồ về chiếc “ghe bầu nhà lầu” của cậu Tư Phước.

Cũng chính Lê Công Phước từ nước Pháp trở về đã mang theo một trào lưu mới trong lối sống của giới nhà giàu trong nước, đó là ai cũng “sắm” cho mình những võ sĩ theo bảo vệ như các nhân vật quan trọng trong chính phủ các nước Châu Âu, mà họ thường gọi là "garde corps". Riêng cậu Tư Phước có 2 võ sĩ người Phi lai Pháp tên Puncher và Kid Demsey. Học theo George Phước, công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy cũng “cò măng” cho riêng mình 1 vệ sĩ tên Batandier vốn là lính Tây của trung đoàn thuộc địa đóng ở Cần Thơ.

Mộ Bạch công tử (màu hồng) trong một khu vườn không người chăm sóc ở xã An Thạnh Thủy – huyện Chợ Gạo.

Một lần, vào năm 1933, Goerge Phước đưa gánh hát Huỳnh Kỳ từ Mỹ Tho đi lưu diễn các tỉnh miền Tây, ghé lại diễn ở nhà lồng chợ Sóc Trăng (tỉnh Sóc Trăng ngày nay). Từ du thuyền bước lên chợ Sóc Trăng, cậu Tư Phước luôn được người vệ sĩ Phi lai Pháp theo sát làm "garde corps", ngoài dáng vóc cao lớn, người vệ sĩ còn rất oai vệ với khẩu súng lục hiệu Browning 6 mm 35 luôn kè kè bên hông. Một bữa sáng, cậu Tư Phước tự cầm lái chiếc xe thể thao hiệu Fiat chở ban tham mưu gánh hát Huỳnh Kỳ đi ăn sáng tại một nhà hàng trên đường Đại Ngải – Sóc Trăng. Chiếc Fiat của cậu Tư đậu không sát lề, bị một cảnh sát công lộ địa phương tới đòi xử phạt.

Là một người lịch lãm, hiểu biết luật pháp, cậu Tư Phước nhìn nhận mình có lỗi và móc tiền đóng phạt, nhưng người vệ sĩ người Pháp lai ấy có vẻ bực tức, nhất là khi viên cảnh sát công lộ ghi giấy phạt với thái độ hống hách. Không cầm được lòng, người vệ sĩ của George Phước nổi nóng bật tiếng chửi thề. Viên cảnh sát cũng không vừa, hất hàm thách đố người vệ sĩ: “Mày ỷ có súng, nhưng dám bắn tao không?”. Người vệ sĩ phân trần bằng tiếng Việt trước hàng trăm người dân bu quanh: “Bà con cô bác làm chứng dùm, tôi không chọc ghẹo anh ta, nhưng nếu anh ta thách tôi, tôi bắn ráng chịu”.

Viên cảnh sát không vừa, thách tiếp: “Mày giỏi bắn con … tao nè!”. Tức thì một tiếng nổ chát chúa vang lên, viên cảnh sát ngã quỵ trên vũng máu trước sự kinh hãi của mọi người. Sau đó, cậu Tư Phước chở viên cảnh sát đi bệnh viện và chở người cận vệ đến sở cảnh sát nộp mình. Thời đó, xâm hại đến cảnh sát là tội rất nặng, nhưng chỉ mấy năm sau, có lẽ nhờ cậu Tư Phước lo lót, mà người vệ sĩ được ra tù, tiếp tục làm vệ sĩ cho ông đến năm 1945. Khi Pháp trở lại chiếm Nam Kỳ, người vệ sĩ ấy trở thành cảnh sát trưởng một quận ở tỉnh Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang).

Chính George Phước chứ không ai khác đã lần đầu tiên đưa cải lương ra Bắc để thử thị hiếu khán giả ngoài ấy. Năm 1932, George Phước đưa gánh hát Phước Cương của mình ra Hà Nội, Hải Phòng trình diễn và được dư luận đánh giá là 1 trong 3 sự kiện văn hóa – xã hội nổi bật trong năm trên đất Bắc (hai sự kiện còn lại là Hội chợ Kẹch Mếch (hay còn gọi là Hội chợ Bạch Yến, tại Hà Nội) và Chợ phiên trong vườn Bách thảo). Tại Hà Nội, George Phước được các bạn bè từng quen biết bên Tây tiếp đón trọng thể như một ông hoàng. Vào thập niên 1930, ở Hà Nội có phong trào đổi mới báo chí do nhóm Hoàng Tích Chu từ Pháp về khởi xướng, có ảnh hưởng lớn trong đời sống xã hội. Sau khi Hoàng Tích Chu mất sớm, nhóm tan rã. Một số người trong họ tách ra lập nhóm Dân Mới.

Trong hoạt động của nhóm Dân Mới, có "Câu Lạc Bộ 15" gồm 15 thành viên có chung một quan niệm, thú vui giải trí gồm cả những thanh niên người Việt từng học ở Pháp và những người Pháp sống ở Hà Nội. Nhóm 15 này thường lui tới nhà hàng Taverne Royal, khách sạn Métropole, nhà hàng cơm Tàu Asia... Chủ nhân khách sạn Métropole - ông Jean - tình nguyện dành cho Câu Lạc Bộ 15 một phòng danh dự đặc biệt làm nơi nhóm họp và một phòng thượng hạng để đón tiếp khách quý phương xa. Trong nhóm có Chu Mậu nỗi danh là một “công tử xứ Bắc”, ông từng là bạn thân của George Phước hồi bên Pháp giai đoạn 1931 – 1932.

Ra Hà Nội cùng với đại bang Phước Cương, cậu Tư Phước được Câu Lạc Bộ 15 đón tiếp đặc biệt trọng thể. Khách sạn Métropole của Jean, thành viên câu lạc bộ, tình nguyện dành riêng cho cậu Tư Phước một căn phòng danh dự mà không lấy tiền trong suốt thời gian lưu lại trên đất Bắc. Đáp lại, cậu Tư Phước sẵn sàng đem gánh hát với những cô đào lừng danh trong làng kịch nghệ phương Nam phục vụ mọi lúc mọi nơi theo yêu cầu của nhóm Câu lạc bộ 15. Nhờ tiếng tăm “ông hoàng George Phước” và nhờ sự lăng xê của Câu lạc bộ 15 mà đoàn hát Phước Cương đã gây tiếng vang khi lần đầu tiên đem cải lương ra Bắc. Sự kiện này đã khơi mào cho những đợt sóng cải lương đi lưu diễn miền Bắc trong những thập niên sau đó, kéo dài cho tới năm 1954. Sau ngày miền Nam giải phóng 1975, cải lương tiếp tục được khán giả phía Bắc đón nhận với tình cảm yêu thương, một phần nhờ những kỷ niệm đẹp của cải lương trên đất Bắc từ thập niên 1930, 1940. Không những thế, việc đưa cải lương ra phục vụ khán giả phía Bắc từ thập niên 1930 đã là tiền đề để bộ môn nghệ thuật này cắm rể và phát triển trên một nửa đất nước cho tới ngày nay.

Thiên Thanh

Tin mới