Bác Hồ với đồng bào các dân tộc thiểu số

Nhân dân - 23/09/2009 14:55

ND - Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, nhất là từ khi về nước trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng, năm 1941, Bác Hồ có nhiều năm tháng công tác, sống và sinh hoạt cùng các đồng chí và đồng bào các dân tộc thiểu số.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng bào Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số "đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta" (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t4, tr217-218).

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân và là tấm gương tiêu biểu nhất của khối đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết và giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng của Người đối với các dân tộc thiểu số được thể hiện nhất quán trong những chính sách của Đảng và Nhà nước ta mà nhiều lần Người nhấn mạnh là ''Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết các dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào" (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t10, tr608). Suốt mấy mươi năm trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng và Chính phủ xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, cho nên đã phát huy lòng yêu nước, động viên sức người, sức của cho kháng chiến và kiến quốc, phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước nâng cao đời sống đồng bào. Có thể nói, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, Bác Hồ luôn dành tình cảm và sự quan tâm đặc biệt. Người coi trọng công tác dân vận đồng bào, từ việc tuyên truyền đến giáo dục, giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số để đồng bào có được ý thức đoàn kết và bình đẳng dân tộc, làm cho đồng bào hiểu được sự cần thiết phải xóa bỏ các thành kiến dân tộc, khắc phục những tập tục lạc hậu, chăm lo phát triển sản xuất để từng bước đưa đời sống đồng bào các dân tộc thoát khỏi đói, nghèo. Khi tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, tháng 10-1961, nói chuyện tại Hội nghị tổng kết cuộc vận động hợp tác xã nông nghiệp ở miền núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh ba vấn đề đối với đồng bào các dân tộc thiểu số:

1-Phải tăng cường đoàn kết dân tộc. Đây là một công tác rất quan trọng, có nội dung mới và rộng hơn. Các dân tộc miền núi đoàn kết chặt chẽ, các dân tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số...

2-Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi. Cố nhiên cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý lấy công việc ở địa phương chứ không phải là bao biện làm thay. 3-Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, làm cho đời sống đồng bào địa phương ngày càng khá hơn, cả về vật chất và tinh thần. (Xem Hồ Chí Minh, Toàn tập, t9, tr181-182). Có thể nhận thấy rằng, Bác Hồ đã xác định rõ những chủ trương và các nhiệm vụ cho công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, mà mục đích cao nhất là chăm lo cho đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số "ngày càng khá hơn".

Quan điểm và tình cảm của Người với đồng bào các dân tộc, cũng như đối với nhân dân lao động thật vô cùng sâu nặng. Đó là sự kết tinh và thấm đượm tình thương yêu, kính trọng, biết ơn của Bác đối với nhân dân mà cuộc đời Bác từng trải nghiệm và sự nghiệp Người gây dựng. Chính vì thế, trước lúc đi xa, trong Di chúc Người viết: Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức, bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Người căn dặn Đảng ta nhiều việc sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, song công việc mà Bác đặc biệt quan tâm là: Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

34 năm kể từ khi đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước ta xây dựng và triển khai nhiều chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội để không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Đối với miền núi, vùng có đông đồng bào dân tộc ít người sinh sống thì Đảng và Nhà nước ta có những chương trình đặc biệt để phát triển kinh tế, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa, chính sách xã hội. Trong hơn 20 năm đổi mới, với những chiến lược và kế hoạch kinh tế-xã hội, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo thực hiện rất nhiều chương trình để phát triển toàn diện các địa bàn miền núi, miền biển là nơi có nhiều các dân tộc thiểu số. Từ Đại hội VIII của Đảng, Chương trình về xóa đói, giảm nghèo đã được triển khai trên toàn quốc, trong đó tập trung rất lớn cho các tỉnh miền núi và ven biển. Đặc biệt, Chính phủ đã xây dựng và triển khai hai chương trình 133 và 135 với hàng loạt các kế hoạch về định canh, định cư và kinh tế mới, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, khuyến nông-lâm-ngư... để trợ giúp đồng bào các dân tộc ít người ở các vùng đặc biệt khó khăn. Với sự nỗ lực rất lớn của các cấp, các ngành và cố gắng của đồng bào các dân tộc, các chương trình của Đảng và Nhà nước đã góp phần xóa đói, giảm nghèo, đời sống của đồng bào các dân tộc có bước cải thiện và nâng lên. Cho đến nay đường ô-tô đã đến được hầu hết trung tâm các xã miền núi, trường học, trạm y tế, điện, nhà văn hóa... được xây dựng và đưa vào sử dụng ở hầu hết các địa bàn vùng cao, vùng sâu. Hệ thống trường dân tộc nội trú và bán trú cũng được đầu tư toàn diện để chăm lo đào tạo con em đồng bào các dân tộc, hệ thống giáo dục và đào tạo cán bộ cho vùng núi, người dân tộc thiểu số phát triển đáp ứng ngày càng cao của yêu cầu các địa bàn là phên giậu của Tổ quốc.

Tuy nhiên, do đặc điểm về địa lý, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cư trú kinh tế-xã hội kém phát triển, tập quán canh tác lạc hậu, không ít nơi còn du canh, du cư, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa nghèo nàn, dân cư thưa thớt, địa bàn cư trú rộng lớn, giao thông bị chia cắt, cách trở do sông núi hiểm trở lại bị đe dọa nhiều vì thiên tai khắc nghiệt. Bên cạnh những khó khăn về điều kiện tự nhiên thì nơi đồng bào sinh sống lại là cửa ngõ biên giới, cả trên đất liền cũng như các vùng biển đảo có nhiều cửa khẩu quốc gia và quốc tế cần phải cảnh giác trước những âm mưu, toan tính xâm phạm và chống phá đất nước ta. Và, nguy hại nhất là sự kích động, chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước. Đời sống đồng bào các dân tộc còn bị tác động, ảnh hưởng tiêu cực khi xây dựng các nhà máy thủy điện vì phải di chuyển đến nơi ở mới, thiếu đất canh tác, phải thay đổi những điều kiện sống như sản xuất, sinh hoạt, các tệ nạn xã hội do mở cửa thị trường như buôn lậu, vận chuyển ma túy, văn hóa phẩm đồi trụy...

Để chính sách đoàn kết dân tộc và chương trình xóa đói, giảm nghèo được đồng bào hưởng ứng thì chúng ta phải suy nghĩ làm thế nào giải thích cho mỗi một người dân ở địa bàn các nơi khó khăn hiểu được để xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống thì các dân tộc phải đoàn kết, thương yêu, kính trọng lẫn nhau, phải ra sức phát triển sản xuất và thực hiện công nghiệp hóa, phải góp sức góp công vào việc xây dựng và bảo vệ đất nước, phải tuyên truyền giáo dục để đồng bào hiểu sâu sắc đó là công việc và quyền lợi của chính mình, từ đó tự nguyện, hăng hái làm cho kỳ được. Muốn làm được như vậy thì phải hiểu dân, thương dân mới có những cố gắng vận động đồng bào thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và các chương trình của Chính phủ có kết quả.

Một vấn đề cần coi trọng trong quá trình triển khai tiếp chính sách dân tộc của Đảng và các chương trình của Chính phủ về xóa đói, giảm nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số là củng cố và tăng cường đội ngũ cán bộ, công chức, hệ thống chính trị ở các địa bàn này. Cần quan tâm bồi dưỡng đào tạo cán bộ, công chức, kết nạp đảng viên là những người dân tộc thiểu số và kết hợp nhiều lớp cán bộ có các độ tuổi khác nhau để hỗ trợ và giúp nhau trong công việc, kết hợp giữa cán bộ địa phương và cán bộ nơi khác tăng cường cho địa bàn. Trong Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay cần làm cho cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là cán bộ người dân tộc ý chí vươn lên và tinh thần hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân là như thế nào? Từ việc thấm nhuần đạo đức Bác Hồ mà tự mình vươn lên trong công việc, tích cực phòng và chống quan liêu, lãng phí, tham nhũng trong việc xây dựng và thực hiện các đề án theo Chương trình 135 và chương trình hỗ trợ các huyện nghèo của Chính phủ.

Tin mới