Ai lắng nghe dân?

Xem tin gốc 

SaigonTimes - 30 tháng trước 58 lượt xem 1 tin đăng lại

Ai lang nghe dan?

(TBKTSG) - Luật Cán bộ, công chức đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2010, thay thế cho Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và các pháp lệnh sửa đổi, bổ sung sau đó. Với sự “nâng cấp” này, mọi công dân đều có quyền hy vọng trong những năm tới, nước ta sẽ có một đội ngũ cán bộ, công chức hết lòng phục vụ nhân dân.

Luật gia Vũ Xuân Tiền (*)

Tiếp nhận đơn khiếu nại tại Phòng tiếp dân UBND, HĐND tỉnh Bình Định. (nguồn: www.baobinhdinh.com.vn)

Tuy nhiên, đó mới chỉ là hy vọng vì không phải cứ nâng pháp lệnh lên thành luật là mọi việc sẽ tự nó tốt hơn. Trong hàng loạt vấn đề cần giải quyết để Luật Cán bộ, công chức đi vào cuộc sống, quan trọng nhất phải là sửa đổi quan hệ của cán bộ, công chức với nhân dân.

Ai nghe dân?

Khoản 2 và khoản 3, điều 8, Luật Cán bộ, công chức quy định: “...2. Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; 3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân”.

Trong đó, quy định “liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” là điều kiện quan trọng nhất, nhưng cho đến nay đã không tồn tại trong mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với nhân dân.

Các vị lãnh đạo cấp cao luôn luôn mong muốn được liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe nhân dân. Song, với khối lượng công việc đồ sộ phải giải quyết hàng ngày, họ không thể trực tiếp gặp dân và nghe dân. Do đó, việc liên hệ với nhân dân, lắng nghe nhân dân tất yếu phải giao cho cấp trung gian và cơ sở.

Nhưng thực tế cho thấy, gần như không có cán bộ nào ở cấp trung gian và cơ sở hoàn thành nhiệm vụ này. Sao có thể được coi là “liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân” khi cả năm, chủ tịch UBND phường không hề đến họp với tổ dân phố? Rồi hàng ngàn đơn thư khiếu kiện của dân, sau khi đi vòng quanh các cơ quan công quyền, lại quay về đúng cơ quan bị kiện; các cuộc khiếu kiện đông người, vượt cấp về thu hồi đất đai, về bồi thường bất hợp lý... vẫn xảy ra ngày càng nhiều.

Ngay cả việc bố trí nơi tiếp đón người dân có việc cần đến cơ quan công quyền cũng có sự phân biệt. Hầu như các cơ quan công quyền đều phân biệt “phòng tiếp khách” và “phòng tiếp dân”. Phòng tiếp khách được trang trí thật đẹp, lịch sự, để tiếp cấp trên và những đối tác trong hệ thống cán bộ, công chức. Phòng tiếp dân thì đơn sơ hơn và là nơi các “quan chức” tiếp “dân” để ban phát ân huệ. Đó không phải chỉ là hình thức mà chứng tỏ người dân chưa được tôn trọng. Giá như cái phòng tiếp dân ấy được sửa lại là “phòng tiếp công dân” thì ý nghĩa cũng đã khác, tức là người được tiếp trong đó là một công dân và có các quyền của một công dân. Song, đáng tiếc là rất ít cơ quan chú ý đến điều đó.

Nghe như thế nào?

Công bằng mà nói, trong xu thế cải cách thủ tục hành chính, một số cơ quan công quyền đã tỏ ra lắng nghe ý kiến của nhân dân. Các cuộc đối thoại với nhân dân và cộng đồng doanh nhân được tổ chức khá nhiều và ngày càng bài bản. Người dân và các doanh nhân được mời phát biểu công khai những bức xúc của mình. Người đại diện cơ quan công quyền có liên quan rất khiêm tốn xin tiếp thu, “đánh giá cao” và chân thành cảm ơn các ý kiến góp ý.

Tuy nhiên, sau các buổi đối thoại, những ý kiến đã được “đánh giá cao” ấy lại nhanh chóng “chìm vào quên lãng”! Lắng nghe và cảm ơn nhưng mọi việc vẫn không hề thay đổi. Như vậy, cái sự lắng nghe ấy sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Đó là lý do vì sao rất nhiều ý kiến góp ý thấu tình, đạt lý, với ý thức xây dựng của nhân dân, doanh nhân cho dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật đã không được tiếp thu. Các công văn, thông tư sửa nghị định của Chính phủ, sửa cả luật vẫn ngang nhiên tồn tại mà không một cơ quan quyền lực nào can thiệp!

Trong giai đoạn hiện nay, thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với nhân dân là vấn đề quan trọng và cấp bách hơn cả. Điều này có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại vững chắc của cả hệ thống chính trị. Bởi lẽ, khi chưa giải quyết được tận gốc vấn đề đó, khẩu hiệu “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” vẫn chỉ là khẩu hiệu. Do đó, xin kiến nghị:

1. Cần có quy định chi tiết hơn nữa đối với hầu hết những vấn đề trong Luật Cán bộ, công chức. Với 10 chương và 87 điều khoản, Luật Cán bộ, công chức vẫn không tránh khỏi tình trạng “luật khung, luật ống”. Do đó, phần lớn các quy định đều là định tính, rất khó cho nhân dân kiểm tra, giám sát các cán bộ, công chức. Chẳng hạn, với khoản 3, điều 8, các câu hỏi được đặt ra là: thế nào là liên hệ chặt chẽ với nhân dân? Thế nào là lắng nghe ý kiến của nhân dân? Và cơ chế nào để cán bộ, công chức chịu sự giám sát của nhân dân?

2. Cần có quy định, hướng dẫn chi tiết để thực hiện điều 15 của luật. Điều 15 chỉ ngắn gọn: “Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong thi hành công vụ”. Nếu không có một quy định, hướng dẫn chi tiết nào thì quy định đó chỉ là một khẩu hiệu. Cần đánh giá một cách khách quan xem hiện nay các cán bộ, công chức ở nước ta đã và đang thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” như thế nào?

3. Cần có văn bản quy định chi tiết hơn nữa về thanh tra công vụ. Luật Cán bộ, công chức dành chương 8 và chỉ có hai điều khoản quy định về phạm vi thanh tra công vụ và thực hiện thanh tra công vụ. Đó là quy định quá sơ sài chứng tỏ thanh tra công vụ chưa thực sự được quan tâm. Có hàng loạt câu hỏi được đặt ra như: Thanh tra công vụ thuộc cơ quan nào quản lý? Quyền hạn và nghĩa vụ của thanh tra công vụ như thế nào? Mối liên hệ giữa thanh tra công vụ với nhân dân? Công dân và các doanh nhân khi bị các cán bộ công chức trong bộ máy công quyền sách nhiễu thì có thể phản ánh với thanh tra công vụ không? Thanh tra công vụ có vai trò rất quan trọng, vì vậy không nên chỉ lập ra một cách hình thức.

___________________________________________________________

(*) Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang