"Ở đây có thể có cách hiểu chưa thật chính xác về con số 10 triệu tỷ đồng (480 tỷ USD). Đấy là con số bằng 1/3 tổng GDP theo giá thực tế của Việt Nam dự tính đạt được trong giai đoạn 2016 – 2020. Nó cũng tương tự hoàn toàn như những kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trước của chúng ta dự tính tổng đầu tư xã hội ở mức 35% GDP".

480 ty USD trong de an tai co cau: Dang co cach hieu chua dung? - Anh 1

Con số 10 triệu tỷ đồng (480 tỷ USD) trong đề án Tái cơ cấu kinh tế mới đây Chính phủ trình Quốc hội đang thu hút sự quan tâm của dư luận.

Sau khi con số trên được đưa ra, nhiều ý kiến lo ngại về tính khả thi của nó khi mà quy mô nền kinh tế GDP loanh quanh 200 tỷ USD và thu ngân sách chưa đến 50 tỷ USD.

Có ý kiến phân tích, với yêu cầu vốn trong 5 năm như trên thì cũng nhiều hơn hẳn tổng đầu tư của suốt hơn 10 năm trong thời kỳ 2006-2015. Nhiều chuyên gia cũng bày tỏ lo ngại nguồn vốn này ở đâu và phân bổ như thế nào…

Trao đổi với phóng viên, TS. Nguyễn Đình Cung - Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã giải thích rõ hơn về con số này. Ông Cung cho biết:

Số 10 triệu tỷ đồng là nói tròn theo giá thực tế. Đó là một con số ước tính về tổng đầu tư xã hội có thể huy động được trong giai đoạn 2016 – 2020 dựa trên những thông số sau:

- Dự tính tỷ trọng đầu tư xã hội trong giai đoạn 2016 – 2020 từ 32 – 34% GDP

- Lạm phát có thể khoảng 4%

- Tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5%/năm

Với những thông số như thế, dự tính tổng GDP theo giá thực tế của năm 2016 – 2020 là khoảng hơn 30 triệu tỷ, như thế 1/3 của số đó cần cho đầu tư là 10 triệu tỷ đồng.

Như vậy, đây không phải con số thể hiện nguồn lực để tái cơ cấu kinh tế, mà là con số thể hiện tổng đầu tư xã hội dự tính có thể huy động được trong năm 2016 – 2020.

Còn tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng thì trọng tâm của nó không phải là huy động nguồn lực, mà là phân bố lại nguồn lực để sử dụng nguồn lực một cách hợp lý hơn, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đặc biệt là hiệu quả đầu tư và nâng cao năng suất lao động, sự đóng góp của các nhân tố khởi nghiệp vào tăng trưởng GDP.

Phân bố nguồn lực này không phải phân bố nguồn lực theo hành chính xin – cho mà phải thay đổi cách thức phân bổ bởi thị trường và theo cơ chế thị trường.

Như vậy, tái cơ cấu kinh tế nằm ở cải cách kinh tế, và đặc biệt là cải cách để thiết lập một thể chế kinh tế thị trường vận hành tốt hơn, đặc biệt là các thị trường nhân tố sản xuất như thị trường vốn, lao động, đất đai, khoa học công nghệ.

Ở đây có thể có cách hiểu chưa thật chính xác về con số 10 triệu tỷ đồng. Đấy là con số bằng 1/3 tổng GDP theo giá thực tế của Việt Nam dự tính đạt được trong giai đoạn 2016 – 2020. Nó cũng tương tự hoàn toàn như những kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trước của chúng ta dự tính tổng đầu tư xã hội ở mức 35% GDP.

Dự báo tăng trưởng GDP 6,33%. Để đạt được mục tiêu này, Chính phủ cần phải làm gì, thưa ông?

Dự báo dựa trên những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như đầu tư tăng bao nhiêu, tín dụng, giá dầu và các loại nguyên liệu. Tôi quan tâm nhiều hơn đến việc thay đổi cách thức phân bố nguồn lực để tăng hiệu quả của sử dụng nguồn lực.

Chính vì vậy, trong đề án tái cơ cấu kinh tế có tính đến 3 kịch bản: Kịch bản thứ nhất bản là không có tái cơ cấu kinh tế, vẫn đều đều như hiện nay.

Kịch bản thứ 2 là quyết liệt và rất quyết liệt, thể hiện ở mức độ tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt mức độ cổ phần hóa và rút vốn nhà nước ở khu vực doanh nghiệp, mức độ thắt chặt kỷ luật ngân sách nhà nước, từ đó dẫn tới ổn định hơn về kinh tế vĩ mô.

Hai điểm này thể hiện mức độ nào đó về phân bố lại nguồn lực trong nền kinh tế.

Nhà nước phải đối diện với một nguyên tắc cơ bản đó là: nguồn lực thì luôn luôn khan hiếm, và vì thế nguồn lực phải được đầu tư vào nơi tốt nhất, có hiệu quả nhất, chứ không phải được đầu tư một cách vô tội vạ theo cơ chế xin-cho như hiện nay.

Chúng tôi tính toán, nếu làm được hai việc này cùng lúc, thì tăng trưởng kinh tế sẽ thêm được 0,5 điểm phần trăm. Bình thường kinh tế tăng trưởng 6,5%, nếu thêm 0,5% thì tăng trưởng 7% là có thể đạt được.

N.Mạnh