1. Gói kích thích kinh tế góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế, ngăn ngừa suy giảm, đảm bảo an sinh xã hội.
Trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm hoặc chưa qua đáy khủng hoảng, kinh tế Việt Nam vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng cả năm ở mức ấn tượng 5,2%. Mặt bằng giá trong năm tương đối ổn định. Lạm phát cả năm được kiềm chế ở mức 6,8%.
Góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế là các biện pháp hỗ trợ, kích thích kinh tế của Chính phủ với gói kích thích kinh tế có tổng giá trị gần 10% GDP. Cụ thể, gói kích thích kinh tế bao gồm 4 khoản: Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17 nghìn tỷ đồng; vốn đầu tư phát triển của Nhà nước khoảng 90,8 nghìn tỷ đồng; thực hiện chính sách miễn, giảm thuế khoảng 28 nghìn tỷ đồng; các khoản chi khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội khoảng 9,8 nghìn tỷ đồng.
Trong đó hỗ trợ lãi suất là khoản được “quan tâm nhiều nhất”. Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức chỉ đạo triển khai kịp thời, quyết liệt các Quyết định 131/QĐ-TTg hỗ trợ 4% cho các khoản vay vốn lưu động của các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế với thời gian hỗ trợ không quá 8 tháng và trước 31/12/2009; Cơ chế thứ 2 là hỗ trợ lãi suất với mức 4% cho các khoản vay vốn trung và dài hạn để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh với thời hạn hỗ trợ không quá 24 tháng và trước 31/12/2011 bao gồm 9 ngành, lĩnh vực thuộc nông nghiệp và công nghiệp (443/QĐ-TTg); Cơ chế thứ 3 theo QĐ 447 là thực hiện hỗ trợ lãi suất các khoản vay mua máy móc thiết bị tối đa là 24 tháng; vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn (tối đa là 12 tháng), áp dụng đối với những khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết, giải ngân trong khoảng thời gian từ 1/5 đến 31/12/2009.
Theo báo cáo nhanh của các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất bằng đồng Việt Nam đến ngày 24/12/2009 là 412.179,83 tỷ đồng.
Trong quá trình thực hiện các chương trình hỗ trợ lãi suất đã xuất hiện một số khó khăn, vướng mắc nhưng đây là một trong những giải pháp kích thích kinh tế tối ưu với chi phí thấp, phù hợp với điều kiện nước ta, có tác động tích cực giúp nhiều doanh nghiệp và hộ sản xuất giảm chi phí vay vốn, giảm giá thành sản phẩm, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, ngăn chặn suy giảm kinh tế. Việc triển khai cơ chế hỗ trợ lãi suất cũng thể hiện sự nỗ lực lớn và khả năng thực thi chính sách của hệ thống ngân hàng.
Đến 31/12/2009 chương trình hỗ trợ lãi suất 4% theo QĐ 131 sẽ chấm dứt. Trong năm 2010, Nhà nước tiếp tục hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho các khoản vay trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân thuộc một số ngành, lĩnh vực kinh tế (gồm: nông nghiệp và lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến, hoạt động khoa học công nghệ, hoạt động thu mua và kinh doanh các mặt hàng nông sản, lâm sản, thủy sản, muối) theo cơ chế quy định tại Quyết định số 443/QĐ-TTG ngày 4/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ với thời hạn hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng, kể từ khi giải ngân khoản vay trong năm 2010.
2. Kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh
Đúng như dự báo của Bộ Công Thương, nhập siêu của năm 2009 là 12 tỷ USD, vượt mục tiêu đề ra là nhập siêu dưới 10 tỷ USD. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2009 ước đạt 56,7 tỷ USD giảm 9,5% so với năm 2008, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 68,7 tỷ USD giảm 14,9% so với năm 2008.
Trong các mặt hàng xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 17,6 tỷ USD, giảm 1,6 tỷ USD so với năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp đạt 25,9 tỷ USD, giảm 2,6 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu hàng nông lâm thủy sản đạt 13 tỷ USD, giảm 2 tỷ USD... Nguyên nhân chính là do giá các nguyên liệu trên giảm và cả thế giới hạn chế tiêu dùng, đầu tư.
Đáng chú ý trong năm 2009, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), tính đến cuối tháng 12-2009, Việt Nam đã ký hợp đồng và xuất khẩu được hơn 6 triệu tấn gạo, tăng 28% so với năm 2008, thu về hơn 2,4 tỷ USD. Như vậy, xét về sản lượng đã vượt cả chỉ tiêu đề ra từ hồi đầu năm là 1 triệu tấn.
3. FDI sụt giảm, vốn đầu tư trong nước tăng, ODA cam kết dành cho Việt Nam đạt kỷ lục
So với năm 2008, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký là 64 tỷ USD và giải ngân là 11,5 tỷ USD thì FDI đăng ký mới và tăng vốn của các dự án đang hoạt động và vốn thực hiện trong năm 2009 sụt giảm mạnh, với các con số tương ứng 21 tỷ USD và khoảng 8 tỷ USD. Năm 2010, mức cam kết và giải ngân FDI được kỳ vọng sẽ tăng nhiều hơn song song với sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu.
Trong khi đó nguồn vốn đầu tư trong nước lại tăng vọt. Ước tính tổng đầu tư toàn xã hội năm 2009 đạt 708,5 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2008 và bằng 42,2% GDP. Trong đó, nguồn vốn đầu tư nhà nước là 321 nghìn tỷ đồng, nguồn vốn đầu tư của tư nhân và của dân cư là 220,5 nghìn tỷ đồng... Lý do chủ yếu là do chính sách kích cầu đầu tư mà Chính phủ thực hiện trong năm 2009.
Tuy nhiên, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cam kết dành cho Việt Nam năm 2010 đạt mức kỷ lục là 8,063 tỷ USD, tăng 3 tỷ USD so với năm 2009 và là mức cao nhất từ trước tới nay. Trong số hơn 8 tỷ USD, 1,4 tỷ USD là vốn viện trợ không hoàn lại và 6,6 tỷ USD vốn vay.
4. Thị trường chứng khoán đi lên từ mức đáy
Có thể thấy, với gói kích cầu của Chính phủ, thị trường chứng khoán đã tăng trưởng mạnh so với đáy vào tháng 3/2009 và tính thanh khoản đã tăng ở mức kỷ lục. VN-Index tăng từ mức 235 điểm lên 624,1iểm giữa tháng 3 đến tháng 10, trước khi giảm 30% từ mức cao nhất. Trong vòng hai tuần qua, thị trường đã tăng 15% so với mức thấp của ngày 17/12/2009 (434,87 điểm).
Diễn biến của thị trường trong thời gian qua được cho là do tác động cộng hưởng của hai yếu tố dòng tiền và tâm lý nhà đầu tư. Dòng tiền đổ vào thị trường tăng giảm ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu trên thị trường trong khi nhà đầu tư lại rất nhạy cảm với những thông tin này khiến cho cường độ ảnh hưởng càng mạnh lên.
Nhìn lại lịch sử giao dịch của thị trường trong vòng hơn một năm qua, không khó để nhận thấy sự đồng điệu giữa nhịp lên xuống của thị trường và diễn biến của chính sách tiền tệ. Thị trường lên khi chính sách tiền tệ nới lỏng và xuống khi chính sách này thắt chặt. Đó là lôgíc thông thường bởi thị trường chứng khoán luôn được coi là phong vũ biểu và thường đi trước diễn biến thực của nền kinh tế. Trong năm 2009, tại những giai đoạn nới lỏng của chính sách tiền tệ, tiền được đổ vào các tài khoản chứng khoán nhiều hơn và thể hiện ở sự tăng lên kỷ lục của giá trị giao dịch thị trường.
Từ hai tháng trở lại đây, thị trường đã liên tục điều chỉnh giảm cùng lúc với các động thái khống chế trực tiếp mức tăng trưởng dư nợ tín dụng và điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước; việc chấn chỉnh hoạt động cho phép bán trước thời điểm T+4 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và nhất là thời điểm quyết toán (31/12/2009) đối với các khoản cho vay đầu tư chứng khoán đang đến gần.
Qua ngày 31/12/2009, áp lực từ những nhân tố trên sẽ dịu bớt và thị trường được kỳ vọng sẽ ở bối cảnh sáng sủa hơn. Đầu tiên là những nhân tố cơ bản bao gồm triển vọng phục hồi của nền kinh tế trong nước và thế giới. Các doanh nghiệp niêm yết sẽ có kết quả kinh doanh tốt hơn và thị trường chứng khoán thế giới sẽ có những diễn biến tích cực.
Một số những điều chỉnh về phương thức giao dịch, những nỗ lực hoàn thiện và phát triển thị trường chứng khoán của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng sẽ tiếp tục được thực hiện trong năm 2010, qua đó tăng cường tính hiệu quả và sự hấp dẫn của thị trường đối với cả phía các công ty phát hành và phía các nhà đầu tư.
Bên cạnh những nhân tố thuận lợi, cũng vẫn có những nhân tố có thể khiến thị trường gặp khó khăn. Rủi ro lớn nhất đối với thị trường chứng khoán là nguy cơ lạm phát, tăng tỷ giá và tình trạng căng thẳng thanh khoản tại các ngân hàng thương mại. Với mục tiêu ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, Chính phủ có thể sẽ tăng cường thắt chặt tiền tệ. Điều này nếu xảy ra sẽ khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết có thể xấu đi, đồng thời nguồn hỗ trợ dòng tiền đổ vào chứng khoán sẽ yếu đi nhất thời.
5. Thị trường bất động sản từ “nguội” sang “nóng”
Đầu năm 2009, tác động của suy thoái kinh tế, thị trường bất động sản tiếp nối chuỗi ngày trầm lắng từ cuối năm 2008. Năm 2009 chứng kiến những thay đổi của thị trường này, giá nhà đất tăng dần vào cuối năm, và xuất hiện những khu đất vàng như Nam Cương, Nam An Khánh…Nguy cơ “bong bóng” bất động sản, hiện tượng đầu cơ…vẫn tồn tại trên thị trường này.
Có thể điểm lại một số vấn đề: Trung tuần tháng 4/2009, lần đầu tiên Chính phủ ra nghị quyết về chính sách nhà ở xã hội, tạo kỳ vọng cho "cuộc cách mạng" về nhà ở cho những người thu nhập thấp sau một thời gian dài thí điểm; Thị trường bất động sản trong năm qua đã chứng kiến một hiện tượng kỳ lạ sau bao nhiêu năm. Đó là việc “sốt” nhà chung cư cũ vào khoảng thời gian giữa năm; Ngày 1/10, Nghị định 69/2009 NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chính thức có hiệu lực đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong chính sách liên quan đến quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư....Ngày 10/12, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ về cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (theo mẫu mới) chính thức có hiệu lực.
Trưởng ban nghiên cứu chính sách đầu tư viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (Bộ Kế hoạch đầu tư) Trần Kim Chung cho rằng, thị trường bất động sản và thị trường tài chính - tiền tệ nói chung có sự liên thông, đặc biệt là chứng khoán. Sự sụt giảm của thị trường trong thời gian qua cho thấy chứng khoán và bất động sản có mối quan hệ bình thông nhau.
Chính vì vậy, ông Chung đề xuất một số giải pháp tìm vốn cho bất động sản và nhấn mạnh việc tăng cường phát triển các công cụ tài chính hóa thị trường địa ốc. Các giải pháp gồm: hình thành quỹ bất động sản, phát triển hệ thống thế chấp thứ cấp tài trợ cho thị trường nhà đất, huy động nguồn vốn trong dân qua các kênh trái phiếu, cổ phiếu bất động sản...
6. Lãi suất cơ bản giữ nguyên trong 10 tháng
Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá theo hướng nới lỏng thận trọng, hỗ trợ thanh khoản, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng hiệu quả.
Tháng 2/2009, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh giảm và duy trì ổn định các mức lãi suất điều hành ở mức hợp lý từ tháng 2/2009 để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng của nền kinh tế; theo đó, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam được điều chỉnh giảm từ 8,5%/năm xuống 7%/năm. lãi suất tái cấp vốn giảm từ 9,5%/năm xuống 7%/năm, lãi suất tái chiết khấu giảm từ 7,5/năm xuống 5%/năm. Các mức lãi suất này được giữ nguyên cho đến hết tháng 11/2009.
Trong những tháng cuối năm, các ngân hàng lại vào cuộc đua tăng lãi suất huy động. Thay vì gửi kỳ hạn ngắn lãi suất thấp, nhiều ngân hàng đẩy lãi suất huy động cho cả kỳ hạn ngắn và dài ngang nhau. Hiện lãi suất huy động VND cao nhất ở mức 10,49%/năm, sát mức trần (10,5%/năm) theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, việc nới lỏng chính sách tiền tệ, nhất là thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất khiến cho tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng đang ở mức cao, ảnh hưởng không thuận lợi đối với việc kiểm soát lạm phát, ổn định lãi suất thị trường trong năm 2009 và sẽ kéo dài sang năm 2010 do độ trễ của tác động chính sách tiền tệ. Mặt khác, tốc độ tăng của nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng thấp hơn tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng, gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng trong việc cân đối vốn. Ngoài ra, do tác động của các giải pháp kích thích kinh tế, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp, hộ sản xuất tăng cao, kéo theo tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng ở mức cao, trong khi huy động vốn của các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng cân đối vốn của các tổ chức tín dụng; lãi suất huy động tăng cao trong khi trần lãi suất cho vay bị khống chế bởi lãi suất cơ bản làm chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay bị thu hẹp, gây khó khăn cho việc trích lập dự phòng rủi ro và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng.
Kể từ đầu tháng 12/2009, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng được điều chỉnh tăng thêm 1% nhằm phù hợp với diễn biến mới của nền kinh tế.
7. Thị trường ngoại hối biến động mạnh
Trên thị trường không chính thức, giá đôla Mỹ có thời điểm đã tiến sát 20.000 đồng đổi một đôla trong ngày giá vàng lập đỉnh (ngày 11/11).
Trong bối cảnh, các nguồn cung USD từ FDI, kiều hối, du lịch… suy giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng đến cân bằng cung cầu ngoại tệ trong nước và là một trong những nguyên nhân khiến thị trường ngoại tệ của Việt Nam có biểu hiện căng thắng.
Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp để ổn định thị trường này như thực hiện hoán đổi ngoại tệ để giảm bớt tình trạng mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn VND và ngoại tệ của các ngân hàng thương mại, đồng thời bổ sung thêm nguồn ngoại tệ để Ngân hàng Nhà nước có thể can thiệp thị trường ngoại hối khi cần thiết; Ngân hàng Nhà nước cũng trình Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo một số tập đoàn, tổng công ty có nguồn thu ngoại tệ lớn bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại; Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VND của các ngân hàng thương mại từ +3% lên +5% kể từ ngày 24/3/2009 và điều hành linh hoạt tỷ giá bình quân liên ngân hàng phù hợp với tín hiệu thị trường và mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu.
Từ cuối tháng 11/2009, để phù hợp với diễn biến mới của nền kinh tế và trên cơ sở xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá, lãi suất, chỉ số giá tiêu dùng và cán cân thanh toán quốc tế, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh giảm biên độ ấn định tỷ giá xuống +3% kể từ ngày 26/11/2009, đồng thời điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng áp dụng cho ngày 26/11/2009 tăng thêm 5,4% so với ngày 25/11/2009.
Nhờ có những giải pháp tích cực, từ cuối tháng 7/2009 đến nay, nguồn cung ngoại tệ và tính thanh khoản của thị trường đã được cải thiện đáng kể; tình trạng găm giữ ngoại tệ đã giảm; các NHTM đã mua được ngoại tệ từ khách hàng. Bên cạnh đó, nguồn cung ngoại tệ còn được cải thiện do dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam đang có xu hướng gia tăng trở lại. Từ tháng 5/2009, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ tăng trở lại (4 tháng đầu năm giảm).
8. Giá vàng liên tiếp lập kỷ lục
Mức đỉnh cao lịch sử của giá vàng giao ngay đóng cửa tại thị trường New York hiện là mức 1.215,8 USD/oz thiết lập vào ngày 2/12/2009. Mức giá này đã bỏ xa kỷ lục đóng cửa 1.002,8 USD/oz của năm 2008. Giá vàng vật chất trong nước lập đỉnh 29,3 triệu đồng một lượng ngày 11/11, cao hơn từ 2,5 – 3 triệu đồng so với giá vàng trên thị trường quốc tế.
Trong năm 2009, thị trường chứng kiến cảnh người dân đổ xô đi mua vàng những ngày giá cao chưa từng có. Do chạy theo tâm lý đám đông, nhiều người đã phải ngậm trái đắng cùng những rủi ro tiềm ẩn trong sự tăng bất thường của giá vàng, trong đó không loại trừ yếu tố đầu cơ. Giới đầu tư trên sàn vàng cũng nếm trải một năm đầy sóng gió cùng thăng trầm của giá vàng.
Trước những diễn biến bất thường của thị trường vàng trong nước, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định cho nối lại hoạt động nhập khẩu vàng nhằm hạ nhiệt thị trường. Quyết định được công bố vào chiều ngày 11/11 này được xem như một liều thuốc giải nhiệt hiệu quả và kịp thời đối với cơn sốt vàng đang ở đỉnh điểm. Trước đó, hoạt động nhập khẩu vàng đã bị tạm ngừng một năm rưỡi.
Sau khi vấn đề nguồn cung được giải quyết, giá vàng tiếp tục có những biến động mạnh do xu hướng leo thang của tỷ giá USD thị trường tự do. Tuy nhiên, vấn đề này đã được khắc phục sau khi Ngân hàng Nhà nước nâng mạnh tỷ giá USD/VND liên ngân hàng và thu hẹp biên độ tỷ giá từ +/-5% về +/-3% vào ngày 25/11.
Từ thời điểm đó tới nay, với sự ổn định của tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do và nguồn cung vàng không còn khan hiếm, giao dịch trên thị trường vàng diễn ra khá ổn định.
Giá vàng trong đầu năm sau được giới chuyên gia dự báo có thể sẽ có sự gia tăng và quay về vùng 1.150 – 1.200 USD mỗi ounce trong quý I/2010. Cuối quý II/2010 được xem là mốc thời gian quan trọng trong quyết định về lãi suất của FED và nếu đúng với dự báo, lãi suất được gia tăng thì giá vàng sẽ có sự điều chỉnh giảm.
Vấn đề quản lý sàn vàng được các cơ quan chức năng cân nhắc trong năm 2009. Hiện Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ hai phương án về quản lý sàn vàng: một là chấm dứt hoạt động sàn vàng; hai là tiếp tục cho hoạt động thì chỉ cho phép các ngân hàng thương mại được mở sàn, đồng thời mức ký quỹ có thể lên tới mức 100%.
Ngoài ra, ngày 16.12, đại diện Bộ Tài chính cho biết, Vụ Chính sách thuế - Bộ Tài chính đã có buổi họp với các đơn vị liên quan để bàn biện pháp áp dụng chính sách thuế đối với các nhà đầu tư kinh doanh vàng trên các sàn vàng hiện nay.
9. Xây dựng chương trình cơ cấu lại nền kinh tế, hoàn thiện các văn bản pháp luật về tập đoàn kinh tế
Chính phủ đã xúc tiến nghiên cứu, hoạch định chương trình tái cấu trúc nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh, tạo sự chuyển biến về chấtt cho nền kinh tế. Đây cũng là một trong những biện pháp khắc phục những điểm yếu của nền kinh tế nước ta đã bộc lộ trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu và suy giảm kinh tế trong nước.
Ngoài ra, những vấn đề bất cập trong mô hình kinh tế tập đoàn và tổng công ty nhà nước được đưa ra phân tích tại kỳ họp thứ sáu Quốc hội khóa XII; công tác hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan được triển khai nhằm bảo đảm điều kiện để các đơn vị kinh tế này hoạt động hiệu quả hơn nữa.
10. Tin đồn tấn công thị trường tài chính - tiền tệ
Điểm lại một số tin đồn trong năm 2009 có thể thấy, sau động thái điều chỉnh chính sách tiền tệ (lãi suất cơ bản, tỷ giá) hơn một tuần (25/11), những tin đồn liên quan đến thị trường tiền tệ có tốc độ lây lan nhanh. Trong đó có tin đồn cho rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều chỉnh nâng mức lãi suất cơ bản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời khẳng định tin đồn trên là không đúng.
Sáng 14/12, trên các sàn chứng khoán rộ lên tin đồn về việc Ngân hàng Nhà nước đã “bơm” gần 30.000 tỷ đồng cho các ngân hàng thương mại cải thiện thanh khoản. Trước tin đồn trên, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã chính thức bác bỏ tin này.
Trước đó ngày 2/12, dư luận trong Nam ngoài Bắc được dịp xôn xao với thông tin Việt Nam sẽ phát hành tiền mệnh giá 1 triệu đồng và mạnh tay thắt chặt chính sách tiền tệ. Ngoài thông tin sẽ có thêm tiền mệnh giá lớn, giới đầu tư còn hoang mang khi nghe tin Chính phủ bắt các ngân hàng mua trái phiếu bắt buộc với tỷ lệ lên tới 50% vốn điều lệ, cao gấp 5 lần mức yêu cầu đưa ra hồi khủng hoảng tiền tệ đầu năm 2008; đồng thời tăng tiếp lãi suất cơ bản và nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng tiền đồng. Dư luận còn bàng hoàng với tin đồn Việt Nam sẽ đổi tiền cho dù thị trường tiền tệ không có nhiều xáo trộn.
Giữa năm, vào ngày 5/6/2009, cổ phiếu ngân hàng đột ngột tăng nóng do nhiều yếu tố tác động, trong đó có cả tin đồn đối tác ngoại được tăng tỷ lệ sở hữu từ 30% lên 49%. Giới đầu tư nhìn nhận nếu việc nâng room là sự thật thì thị trường sẽ có thêm nhiều cơ hội mới khi ôm cổ phiếu ngân hàng. Tuy nhiên, lập tức sau đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu đã khẳng định tăng tỷ sở hữu chỉ là tin đồn, Việt Nam chưa có chủ trương về vấn đề này. Room cho khối ngoại trong các ngân hàng cổ phần nội địa vẫn không vượt quá 30% vốn điều lệ, kể cả khi ngân hàng niêm yết trên sàn. Trong đó mỗi nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan được phép sở hữu tối đa 10%. Nhà đầu tư chiến lược nước ngoài được áp dụng room 15%, trường hợp đặc biệt không quá 20% và phải được Thủ tướng chấp thuận.
Kim Chi